Notifications
Clear all

Trao đổi về cấu thành tội phạm của Điều 348 Bộ luật hình sự năm 2015

1 Bài viết
1 Thành viên
0 Reactions
35 Lượt xem
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 187639.14
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 12590
Topic starter  

Hiện nay, một số vụ án hình sự có bị can, bị cáo bị điều tra, truy tố và xét xử về Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép, nhưng quá trình giải quyết không chỉ ra được ai là người có hành vi xuất cảnh trái phép, dẫn đến việc giải quyết vụ án có nhiều quan điểm không thống nhất. Bài viết đưa ra vụ án xảy ra trên thực tiễn liên quan đến nội dung này và kiến nghị.

Nội dung vụ án:

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) S thành lập năm 2008, do Phùng Ngọc H làm chủ sở hữu, đồng thời là người đại diện theo pháp luật. Công ty S hoạt động trong lĩnh vực tư vấn về du học, thăm thân nhân và xuất khẩu lao động sang các thị trường châu Âu, Úc và Canada. Xuất phát từ quy định của Chính phủ Canada là hồ sơ xin cấp thị thực có thể nộp trực tuyến qua mạng bằng các tập tin, nên Phùng Ngọc H đã nảy sinh ý định chỉnh sửa, làm giả các tài liệu và sử dụng các tài liệu giả này để nộp nhằm xin cấp thị thực cho các khách hàng mà theo Phùng Ngọc H, nếu làm đúng thì hồ sơ xin thị thực của các khách hàng này có thể bị từ chối.

Thực hiện ý định trên, từ năm 2019 đến năm 2023, với vai trò là giám đốc Công ty TNHH S, Phùng Ngọc H đã chỉ đạo các nhân viên trong Công ty của mình liên hệ với Công ty TNHH thương mại G và một số người khác làm giả, hợp thức hóa hồ sơ xin thị thực xuất cảnh sang Canada cho 45 trường hợp, trong đó có 36 trường hợp được cơ quan chức năng của Canada chấp nhận cấp thị thực, còn lại 09 trường hợp bị từ chối. Riêng Công ty TNHH thương mại G, ngoài việc phối hợp với Công ty TNHH S làm giả, hợp thức hóa một số hồ sơ trong số các hồ sơ xin thị thực của các khách hàng nói trên, còn tự mình thực hiện đối với 08 trường hợp khác cũng với cách thức trên. Việc làm giả, hợp thức hóa hồ sơ xin thị thực này có sự phối hợp của khách hàng.

Những người làm việc trong hai Công ty nói trên đều bị điều tra, truy tố, xét xử về hai tội, là Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép và Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo các Điều 348, 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015).

Quá trình giải quyết vụ án trên có một số ý kiến trái chiều. Có ý kiến đồng tình và các ý kiến không đồng tình dựa trên các căn cứ, lập luận sau:

Thứ nhất, để kết án các bị cáo về Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép, việc kết án phải thoả mãn hai dấu hiệu sau đây:

(1) Hành vi xuất cảnh của các khách hàng nói trên là trái phép. Tuy nhiên, ngoài 09 trường hợp không được cấp thị thực nên không xuất cảnh; các trường hợp khác đều xuất cảnh do có thị thực. Điều 33 Luật xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019, sửa đổi, bổ sung năm 2023 quy định: Công dân Việt Nam được xuất cảnh khi có đủ các điều kiện sau đây: Có giấy tờ xuất nhập cảnh còn nguyên vẹn, còn thời hạn sử dụng; có thị thực hoặc giấy tờ xác nhận, chứng minh được nước đến cho nhập cảnh, trừ trường hợp được miễn thị thực; không thuộc trường hợp bị cấm xuất cảnh, không được xuất cảnh, bị tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật; người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự, người chưa đủ 14 tuổi ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này phải có người đại diện hợp pháp đi cùng.

Với quy định trên thì việc xuất cảnh của các khách hàng của Công ty TNHH S và Công ty TNHH thương mại G không trái phép, vì họ xuất cảnh trong trường hợp đã có thị thực của Canada và theo pháp luật Việt Nam thì đây là trường hợp được xuất cảnh. Trong vụ án này cơ quan tiến hành tố tụng đã không điều tra, truy tố, xét xử khách hàng nào về Tội vi phạm quy định về xuất cảnh theo Điều 347 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, ở đây có quan điểm thiếu thống nhất trong quá trình giải quyết, đó là đã không định Tội vi phạm quy định về xuất cảnh đối với các khách hàng, nhưng lại định Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép đối với những người tham gia chỉnh sửa, hợp thức hoá hồ sơ xin thị thực của các khách hàng. Đây là điều bất hợp lý, có người bị buộc Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép, nhưng người đó tổ chức cho ai xuất cảnh trái phép thì không chỉ ra được. Theo tác giả, sự bất hợp lý này có thể do nhầm lẫn giữa tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép với khái niệm tổ chức trái phép cho người khác xuất cảnh. Ở khái niệm thứ nhất, bắt buộc người xuất cảnh phải là xuất cảnh trong trường hợp không được sự cho phép của Nhà nước; còn ở khái niệm thứ hai thì không cần điều đó, mà chỉ cần có hành vi trái phép trong việc tổ chức cho người khác xuất cảnh, còn việc qua nước ngoài của người xuất cảnh có thể không trái phép.

Như vậy, việc làm hồ sơ xin thị thực cho các khách hàng của các bị cáo trong vụ án tuy có yếu tố gian dối, nhưng thực chất của sự gian dối này là làm cho các khách hàng của mình được xuất cảnh không trái phép (tức là xuất cảnh trong trường hợp có thị thực). Do đó không thể xét xử họ về Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép.

(2) Hành vi làm giả, hợp thức hoá hồ sơ xin thị thực phải có ý nghĩa quyết định trong việc được cấp thị thực. Quá trình điều tra vụ án này không chứng minh được hành vi làm giả, hợp thức hoá hồ sơ xin thị thực có ý nghĩa quyết định trong việc được cấp thị thực, vì nhà nước Canada không có bất cứ quy định rõ ràng nào về điều kiện, tiêu chuẩn để được cấp thị thực. Thực tế một số hồ sơ có sự làm giả, hợp thức hoá nhưng vẫn bị cơ quan chức năng Canada từ chối cấp thị thực. Điều này có nghĩa là các bị cáo cũng chỉ dự đoán mà không chắc chắn là việc chỉnh sửa hồ sơ có ý nghĩa quyết định trong việc khách hàng của mình được nhà nước Canada cấp thị thực. Tức là nếu không có hành vi làm giả, hợp thức hoá hồ sơ, thì các khách hàng vẫn có thể được cấp thị thực và ngược lại.

Như vậy, cả hai dấu hiệu rất quan trọng để buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép đều không thoả mãn.

Thứ hai, cần định tội đối với hành vi dùng hồ sơ có các tài liệu giả nói trên để xin cấp thị thực như thế nào cho đúng?

Về hành vi dùng hồ sơ có các tài liệu giả nói trên để xin thị thực nhập cảnh vào nước ngoài cho khách hàng của những người làm việc trong các công ty trên có phạm tội hay không? Nếu có thì phạm vào tội nào của BLHS năm 2015.

Như đã phân tích ở trên, hành vi dùng hồ sơ có các tài liệu giả nói trên để xin thị thực nhập cảnh vào nước ngoài cho khách hàng của mình của những người làm việc trong các công ty trên không phạm Tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép. Đây thực chất là hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật, cụ thể là hành vi gian dối trong việc xin thị thực.

Mặt khác, tại Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử, nội dung của Công văn thể hiện rõ quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao là đối với người không trực tiếp làm giả giấy tờ, tài liệu, mà nhờ người khác làm, sau đó sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật, thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Do đó, những người làm việc tại các công ty nói trên phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức và Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015. Đối với những nhân viên làm việc theo sự phân công, chỉ đạo của lãnh đạo Công ty, chỉ thực hiện một hoặc một số khâu trong việc chỉnh sửa tài liệu, hoàn toàn không liên quan đến việc xin thị thực thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; những người không trực tiếp làm giấy tờ, tài liệu giả, mà chỉ liên quan đến việc nhờ người khác làm, sau đó sử dụng giấy tờ, tài liệu giả để thực hiện hành vi xin cấp thị thực, hoặc chỉ liên quan đến hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả để thực hiện hành vi xin cấp thị thực thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

Thứ ba, về vấn đề có định nhiều tội đối với người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Vấn đề này hiện còn nhiều ý kiến trái chiều. Một số ý kiến cho rằng một hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu xâm phạm nhiều khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ thì phải chịu trách nhiệm hình sự về nhiều tội, tương ứng với các khách thể bị xâm phạm. Ý kiến khác cho rằng, người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội thì chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về một tội mà thôi.

Tại Công văn số 73-TK ngày 02/3/1995 của Tòa án nhân dân tối cao về đường lối xét xử loại tội phạm tình dục trẻ em, hướng dẫn: “Đối với những trường hợp mà người có hành vi hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ em hoặc giao cấu với trẻ em dưới 16 tuổi lại có cùng dòng máu về trực hệ với nạn nhân hoặc là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng mẹ khác cha, anh chị em cùng cha khác mẹ với nạn nhân, thì ngoài việc xét xử bị cáo về một tội theo quy định tại các Điều 112, 113, hoặc 114 Bộ luật Hình sự, còn phải xét xử bị cáo thêm về Tội loạn luân theo Điều 146 Bộ luật Hình sự”.

Như vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã từng có hướng dẫn về việc người thực hiện một hành vi có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hai tội. Tuy vậy, đây là một hướng dẫn đã cũ và hiện nay có thể không còn phù hợp, thực tế rất nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội thoả mãn nhiều cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS ở các giai đoạn khác nhau. Việc buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội mà hành vi của họ thoả mãn các cấu thành tội phạm của các tội này là chưa hợp lý. Vì vậy tại Văn bản trao đổi nghiệp vụ số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019, Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn lại như sau: “Trường hợp người thực hiện 01 hành vi nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn”.

Trong vụ án nói trên, rất nhiều nhân viên của các Công ty TNHH S và Công ty TNHH thương mại G chỉ có một hành vi làm giả các tài liệu trong hồ sơ xin thị thực xuất cảnh của khách hàng theo sự phân công công việc của lãnh đạo Công ty này mà không liên quan đến hành vi xin thị thực cho khách hàng.


   
Trích dẫn
Chia sẻ: