Tình-hình-Syria-Tru...
 
Notifications
Clear all

[Đóng] Tình-hình-Syria-Trung-đông-Nga-vs-Ukraine-Phương-tây-vol-65

3,001 Bài viết
51 Thành viên
5751 Reactions
15.2 K Lượt xem
Aliabu2
(@aliabu2)
Lão niên
Được ưa thích
Trung lưu rank 3
Tài sản: 65370.66
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 13850
 

https://twitter.com/warhunter2222/status/1995120898169290801?s=46&t=wj6RUxoo3J5Eor5xgVjc1A

🇷🇺 vào Bắc Gulyaipole 

Không chửi lợn, không mắng chó


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 70902.28
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 21848
 

Để hiểu đầy đủ bản chất của cuộc xung đột Ukraina, điều cần thiết là phải xem xét nguyên nhân của nó, bởi vì lý do Nga phát động CDQSĐB vào tháng 02/2022 nói lên rất nhiều điều về mục tiêu của Nga và những tác động lâu dài của nó. Quan niệm thông thường ở phương Tây cho rằng Putin phải chịu trách nhiệm về việc gây ra cuộc chiến Ukraina. Theo lập luận này, mục tiêu của Putin là chinh phục toàn bộ Ukraina và biến nó thành một phần của nước Nga. Một khi đạt được mục tiêu đó, Nga sẽ xây dựng một đế chế ở Đông Âu, giống như Liên Xô trước đây. Trong câu chuyện này, Putin là mối đe dọa nghiêm trọng đối với phương Tây và cần phải “bị xử lý” bằng vũ lực. Câu chuyện này có rất nhiều vấn đề.

Thứ nhất, không có bằng chứng nào cho thấy Putin muốn chinh phục toàn bộ Ukraina và sáp nhập vào Nga. Khi bị chất vấn về điểm này, những người theo “quan điểm thông thường” nói rằng “Putin tuyên bố Ukraina là một quốc gia nhân tạo và người Nga với người Ukraina là một dân tộc”. Họ cho rằng đây là lý do “thuyết phục”. Trên thực tế, Putin đã công nhận Ukraina là một quốc gia độc lập. Putin luôn nhấn mạnh rằng Nga chấp nhận “thực tế địa chính trị mới hình thành sau khi Liên Xô tan rã”.

Thứ hai, Putin không có đủ lực lượng để chinh phục Ukraina. Khi CDQSĐB bắt đầu, chỉ có tối đa 190.000 quân nhân tham chiến. Khi đó, Tư lệnh Lục quân Ukraina Aleksandr Syrsky đã khẳng định rằng lực lượng của Nga chỉ có 100.000 quân. Không có cách nào mà một lực lượng có quân số 100.000 hoặc 190.000 quân có thể chinh phục, chiếm đóng và sáp nhập toàn bộ Ukraina vào Nga. (Để tham khảo, khi Đức xâm lược nửa phía Tây của Ba Lan vào 01/9/1939, Wehrmacht có khoảng 1,5 triệu quân. Về mặt địa lý, Ukraina lớn hơn gấp 3 lần so với nửa phía Tây của Ba Lan vào năm 1939 và có dân số gần gấp đôi Ba Lan khi đó).

Thứ ba, ngay sau khi bắt đầu CDQSĐB, Nga đã nghiêm túc đề xuất đàm phán mà không quan tâm đến việc sáp nhập lãnh thổ Ukraina, ngoại trừ Crưm, nơi họ đã sáp nhập vào năm 2014. Tuy nhiên, tiến trình đàm phán thất bại khi người Ukraina, với sự xúi giục từ Anh và Hoa Kỳ, đã rời khỏi cuộc đàm phán, vốn đang đạt được tiến triển tốt.

Thứ tư, trước khi CDQSĐB bắt đầu, Putin đã cố gắng tìm kiếm một giải pháp ngoại giao cho cuộc khủng hoảng đang âm ỉ. Vào ngày 17/12/2021, Putin đã gửi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden và người đứng đầu NATO Jens Stoltenberg đề xuất giải pháp cho cuộc khủng hoảng dựa trên một bảo đảm bằng văn bản rằng: Ukraina sẽ không gia nhập NATO; Không có vũ khí tấn công nào được bố trí gần biên giới Nga; Quân đội và thiết bị của NATO được chuyển vào Đông Âu kể từ năm 1997 sẽ được chuyển trở lại Tây Âu. Hoa Kỳ đã từ chối đàm phán, họ không quan tâm đến việc tránh một cuộc chiến tranh.

Thứ năm, không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy Putin đang xem xét việc chinh phục bất kỳ quốc gia nào khác ở Đông Âu. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên, bởi quân đội Nga thậm chí còn chưa đủ mạnh để chinh phục toàn bộ Ukraina, chứ đừng nói đến việc chinh phục các quốc gia châu Âu khác.

Trên thực tế, nguyên nhân sâu xa của cuộc xung đột là quyết định của NATO đưa Ukraina vào liên minh, điều mà tất cả các nhà lãnh đạo Nga đều coi là mối đe dọa hiện hữu cần phải loại bỏ. Tuy nhiên, việc NATO mở rộng không phải là toàn bộ vấn đề, vì nó là một phần của chiến lược lớn hơn nhằm biến Ukraina thành một “thành trì vững chắc” của phương Tây trên biên giới Nga. Việc đưa Kiev gia nhập Liên Âu và thúc đẩy cuộc cách mạng màu ở Ukraina là hai mũi nhọn khác của chính sách này. Quan điểm này của Nga hoàn toàn hợp lý với người Mỹ, những người từ lâu đã trung thành với Học thuyết Monroe, quy định rằng “không một cường quốc nào ở xa được phép thành lập liên minh với một quốc gia ở châu Mỹ và đặt lực lượng quân sự tại đó. Hoa Kỳ sẽ coi động thái như vậy là mối đe dọa hiện hữu và sẽ loại bỏ mối nguy hiểm này bằng mọi biện pháp”.

Tóm lại, việc Ukraina gia nhập NATO là một mối đe dọa hiện hữu không thể chấp nhận được với người Nga, và CDQSĐB đã xảy ra để ngăn chặn điều đó. Xung đột Ukraina là một thảm họa. Thật vậy, đó là một thảm họa gần như chắc chắn sẽ tiếp tục kéo dài trong những năm tới. Nó đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho Ukraina. Nó đã đầu độc mối quan hệ giữa châu Âu và Nga, và khiến châu Âu trở nên mong manh hơn. Nó cũng gây ra những tổn hại nghiêm trọng về kinh tế và chính trị trong nội bộ châu Âu và làm tổn hại nghiêm trọng đến quan hệ xuyên Đại Tây Dương.

Thảm họa này đặt ra câu hỏi tất yếu: Ai phải chịu trách nhiệm cho cuộc chiến này? Câu hỏi này sẽ không sớm biến mất, và có thể nó sẽ ngày càng trở nên nóng hơn theo thời gian khi mức độ thiệt hại ngày càng rõ ràng hơn đối với nhiều quốc gia.

Câu trả lời, tất nhiên, là Hoa Kỳ và các đồng minh châu Âu của họ phải chịu trách nhiệm chính. Quyết định mở đường đưa Ukraina vào NATO tháng 4/2008 chính là động lực chính gây ra cuộc xung đột vũ trang Ukraina. Tuy nhiên, hầu như tất cả “giới tinh hoa châu Âu” vẫn sẽ đổ lỗi cho Nga vì đã gây ra xung đột, và theo đó là toàn bộ hậu quả thảm khốc của nó. Nhưng họ đã sai. Cuộc chiến lẽ ra đã có thể tránh được nếu phương Tây không quyết định đưa Ukraina vào NATO, hoặc thậm chí nếu họ rút lại cam kết đó sau khi Nga thể hiện rõ sự phản đối. Nếu điều đó xảy ra, Ukraina gần như chắc chắn sẽ được giữ nguyên vẹn trong phạm vi biên giới trước năm 2014, và châu Âu sẽ ổn định và thịnh vượng hơn.

Nhưng họ đã quyết định nhổ neo cho con tàu ra khơi, khi mà đã có dự báo bão cấp 22, và giờ đây châu Âu sẽ phải đối mặt với những hậu quả thảm khốc của một loạt sai lầm mà đáng lẽ có thể tránh được.

(Hà Huy Thành)


   
Canonbb, Phosaigon, U Cay and 3 people reacted
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 185810.18
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 12256
Topic starter  
photo 2025 11 30 21 44 11

Về tình hình tiền tuyến

Tại khu vực an ninh Kharkiv, Lực lượng Vũ trang Nga đang tấn công các vị trí của Lực lượng Vũ trang Ukraine ở trung tâm Liman, phía nam Vovchansk. Tại Vovchansk, các vị trí đã được chiếm giữ trên đường cao tốc đến Kharkiv gần một trạm xăng.

Gần Kupyansk, Lực lượng Vũ trang Nga đã phát động một cuộc tấn công cơ giới, tiến đến vùng ngoại ô phía bắc của Petropavlovka.

Gần Borovaya, máy bay tấn công của Nga đã chiếm được một cứ điểm trên các tuyến đường tiếp cận trực tiếp đến ngôi làng từ hướng Borovskaya Andreyevka.

Theo dữ liệu lưu trữ, tuyến liên lạc dọc theo tuyến Karpovka-Sredneye gần Krasny Liman đã được làm rõ.

Tại Konstantinovka, Lực lượng Vũ trang Nga đang chiến đấu giành các vị trí mới ở ngoại ô phía nam của thành phố, gần ga đường sắt. Khu vực trung tâm của Pleshcheyevo đã được kiểm soát.

Tại vùng Krasnoarmeysky, Lực lượng Vũ trang Nga đã tiến về phía nam Dimitrov. Phía tây Krasnoarmeysk, Quân đội Nga bắt đầu giao tranh giành quyền kiểm soát các vị trí ở Grishino và gần một trạm xăng trên đường cao tốc E-50. Quân đội Nga tăng cường hiện diện ở cửa ngõ Krasnoarmeysk và cũng tiến về phía bắc Kotlino.

Tại khu vực an ninh Dnipropetrovsk, gần Mezhevaya, Quân đội Nga đã giành quyền kiểm soát các vị trí ở phía tây Ivanovka.


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 70902.28
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 21848
 

@a98 @hatam @elevonic @ktqsminh @ngo-rung @uman

Thảm họa Ukraina và những rắc rối nghiêm trọng trong sự thay đổi lợi ích của Hoa Kỳ khiến cho tương lai của Châu Âu trở nên ảm đạm. Tình hình hiện tại ở châu Âu hoàn toàn không giống với những gì mà châu Âu đã có được trong thời kỳ đơn cực, kéo dài từ 1992 (sau khi Liên Xô sụp đổ) cho đến năm 2017 (khi Trung Quốc và Nga nổi lên như những cường quốc, biến thế giới trở nên đa cực). Hầu hết người châu Âu cách đây vài năm vẫn rất tin tưởng rằng “nền dân chủ tự do – toàn cầu hóa” chắc chắn sẽ lan rộng khắp thế giới, mang lại thịnh vượng cho họ mãi mãi, không ai có thể tưởng tượng được rằng rắc rối lại đến nhanh như vậy.

Cuộc xung đột vũ trang ở Ukraina là nguyên nhân chính gây ra bất ổn ở châu Âu ngày nay. Tuy nhiên, còn có một yếu tố thứ hai: sự dịch chuyển cán cân quyền lực toàn cầu từ đơn cực sang đa cực vào năm 2017, chắc chắn sẽ đe dọa cấu trúc an ninh ở châu Âu. Tuy nhiên, có lý do chính đáng để tin rằng sự dịch chuyển trong phân bổ quyền lực này là vấn đề có thể kiểm soát được. Nhưng sự xuất hiện đồng thời của hai yếu tố trên đã tạo nên những vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, khó có thể biến mất trong tương lai gần.

Chìa khóa để duy trì sự ổn định ở Tây Âu trong Chiến tranh Lạnh và toàn bộ châu Âu trong thời kỳ đơn cực chính là sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại châu Âu, đặt châu Âu dưới sự bảo trợ an ninh của họ. Một số người có thể lập luận rằng EU, chứ không phải NATO, là nguyên nhân chính tạo nên sự ổn định của châu Âu trong thời kỳ đơn cực. Nhưng điều này hoàn toàn sai lầm. Mặc dù EU là một thể chế thành công đáng kể, nhưng thành công của nó phụ thuộc vào việc NATO duy trì hòa bình ở châu Âu. Có thể nói rằng thể chế chính trị-quân sự là cơ sở hạ tầng, còn thể chế kinh tế là kiến trúc thượng tầng. Nghĩa là, nếu không có sự bảo trợ của Mỹ, thì không chỉ NATO sẽ biến mất, mà EU cũng sẽ bị suy yếu nghiêm trọng và khó mà tồn tại. Tuy nhiên, thế giới đơn cực đã biến mất, cùng với đó là sự xuất hiện của thế giới đa cực. Hoa Kỳ không còn là cường quốc duy nhất trên thế giới. Trung Quốc và Nga giờ đây đã trở thành những cường quốc, đồng nghĩa với việc các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ phải suy nghĩ khác về thế giới xung quanh.

Tất nhiên, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, nhưng Trung Quốc đã và đang dần bắt kịp và hiện đã là một đối thủ ngang hàng. Dân số đông đảo cùng với sự tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc kể từ đầu những năm 1990 đã biến Trung Quốc thành một thế lực có ảnh hưởng tuyệt đối ở Đông Á. Đối với Hoa Kỳ, vốn đã là bá chủ ở phương Tây, việc một cường quốc khác có ảnh hưởng vượt qua họ ở châu Á hoặc châu Âu là một viễn cảnh vô cùng đáng lo ngại. Hãy nhớ rằng Hoa Kỳ đã tham gia cả hai cuộc Thế chiến để ngăn chặn Đức và Nhật Bản trở thành bá chủ khu vực ở châu Âu và Đông Á. Logic tương tự vẫn đúng cho đến ngày nay.
Với sự phân bổ quyền lực toàn cầu này, Hoa Kỳ có nhiệm vụ chiến lược là tập trung vào việc kiềm chế Trung Quốc và ngăn chặn nước này thống trị Đông Á. Không có lý do chiến lược nào bắt buộc Hoa Kỳ phải duy trì sự hiện diện quân sự đáng kể ở châu Âu, xét đến việc Nga không phải là mối đe dọa để trở thành “bá chủ” ở châu Âu. Việc dành phần lớn nguồn lực quốc phòng cho châu Âu sẽ làm giảm các nguồn lực dành cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Logic cơ bản này giải thích cho việc Hoa Kỳ đang xoay trục sang châu Á. Nhưng nếu Hoa Kỳ xoay trục sang châu Á, đồng nghĩa với việc họ sẽ phải rời xa một khu vực khác, đó chính là châu Âu.

Tóm lại, các cấu trúc thế lực hùng mạnh gắn liền với sự chuyển dịch từ đơn cực sang đa cực, cùng với mối quan hệ đặc biệt của Mỹ với Israel, có khả năng loại bỏ vai trò trung gian của Mỹ khỏi châu Âu và làm tê liệt NATO, điều này rõ ràng sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng cho an ninh châu Âu. Tuy nhiên, vẫn có thể tránh được việc Mỹ rút lui, điều mà chắc chắn hầu hết các nhà lãnh đạo châu Âu đều đã và đang mong muốn. Nói một cách đơn giản, để đạt được kết quả đó đòi hỏi những cái đầu có tư duy chiến lược khôn ngoan và ngoại giao khéo léo ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Nhưng đó không phải là những gì chúng ta thấy cho đến nay. Thay vào đó, châu Âu và Hoa Kỳ đã dại dột tìm cách đưa Ukraina vào NATO, bằng mọi biện pháp kích động cuộc đối đầu quân sự với Nga mà họ đang là bên thua cuộc, làm gia tăng đáng kể khả năng Hoa Kỳ sẽ rời khỏi châu Âu, hệ quả là NATO sẽ tan rã, hoặc ít nhất là thu nhỏ qui mô thành liên minh quân sự khu vực.

Và cuối cùng, một câu hỏi đặt ra: Châu Âu sẽ “xoay trục” đi đâu nếu bị Hoa Kỳ bỏ rơi?

(Hà Huy Thành)


   
Canonbb, Phosaigon, U Cay and 1 people reacted
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 70902.28
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 21848
 

GS Nông Văn Hải đưa tin

SAU SẮC LỆNH CỦA TỔNG THỐNG TRỪNG PHẠT 2 LẦN: 5 NĂM (2022-2027) VÀ VÔ THỜI HẠN (TỪ 2024), NỮ CA SĨ NỔI TIẾNG NGƯỜI UKRAINA, NGHỆ SĨ NHÂN DÂN UKRAINA ANI LORAK ĐÃ TRỞ THÀNH…”NGƯỜI NGA GỐC UKRAINA”

Có thể dễ dàng tra họ và tên Ani Lorak trong Cơ sở dữ liệu trừng phạt của Chính phủ Ukraina với hàng chục ngàn người. Tội lỗi chính là hát bài hát Nga, biểu diễn ở nước Nga…

https://drs.nsdc.gov.ua/actions/personal

PS: bổ sung thêm, cô này sinh ở tỉnh Chernivtsi ở miền Tây Ukraina, với tiếng Ukraine là tiếng mẹ đẻ. Năm 2022, cô phản đối chiến dịch quân sự của Nga, song vẫn bị Ukraine phê phán nặng nề vì phản ứng chậm trễ và thờ ơ, rồi tiếp tục hát ở Nga

This post was modified 2 tháng trước by langtubachkhoa

   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
Aliabu2
(@aliabu2)
Lão niên
Được ưa thích
Trung lưu rank 3
Tài sản: 65370.66
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 13850
 

https://twitter.com/kalibrated_maps/status/1995156999617802500?s=46&t=wj6RUxoo3J5Eor5xgVjc1A

🇷🇺 áp vào Dibrova gần Lyman

Không chửi lợn, không mắng chó


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
Aliabu2
(@aliabu2)
Lão niên
Được ưa thích
Trung lưu rank 3
Tài sản: 65370.66
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 13850
 

https://twitter.com/kalibrated_maps/status/1995161604510597471?s=46&t=wj6RUxoo3J5Eor5xgVjc1A

Volchansk load 80%

Không chửi lợn, không mắng chó


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 185810.18
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 12256
Topic starter  
photo 1 2025 11 30 23 26 34
photo 3 2025 11 30 23 26 34
photo 2 2025 11 30 23 26 34

Hulyaipole. Ngày 30 tháng 11 năm 2025
Lực lượng Vũ trang Nga đã có mặt tại thành phố.
Đến trưa, hơn 70% Dobropillia đã nằm dưới sự kiểm soát của Lực lượng Vũ trang Nga.


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
Aliabu2
(@aliabu2)
Lão niên
Được ưa thích
Trung lưu rank 3
Tài sản: 65370.66
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 13850
 

https://twitter.com/distant_earth83/status/1995163944437375081?s=46&t=wj6RUxoo3J5Eor5xgVjc1A

🇷🇺 giành trung tâm Dobropolie

Không chửi lợn, không mắng chó


   
U Cay and Hai Hoa reacted
Aliabu2
(@aliabu2)
Lão niên
Được ưa thích
Trung lưu rank 3
Tài sản: 65370.66
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 13850
 

https://twitter.com/distant_earth83/status/1995177060860580281?s=46&t=wj6RUxoo3J5Eor5xgVjc1A

Sắp xong Dobropolie

Không chửi lợn, không mắng chó


   
U Cay and Hai Hoa reacted
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 70902.28
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 21848
 
 
 
Giới thiệu về nguồn gốc Chủ nghĩa bài Nga ở Mỹ. Phần 1
“Điều quan trọng không phải là điều gì là đúng mà là điều gì được coi là đúng. ”
Henry Kissinger
Chủ nghĩa bài Nga của người Mỹ bắt đầu từ nơi mà người Pháp, người Anh và người Đức đã dừng lại. Nó là sự tổng hợp năng động giữa chủ nghĩa bài Nga dân chủ tự do của Pháp và chủ nghĩa bài Nga đế quốc của Anh và Đức. Từ Pháp, nó đã vay mượn triết lý và nguyên tắc của mình: tự do, dân chủ và nhân quyền. Từ người Anh, nó đã rút ra các mục tiêu của mình: thống trị các vùng biển và tiếp cận các thị trường lục địa chính, cũng như chiến lược của nó: ưu thế quân sự nhờ ngân sách quốc phòng vượt trội hơn tất cả các ngân sách khác cộng lại, và làm chủ thông tin liên lạc với việc huy động liên tục các nguồn lực quyền lực mềm. Về phần người Đức, họ đã cung cấp cho nó bộ công cụ, các kỹ thuật tuyên truyền đại chúng do Đức Quốc xã nghĩ ra, và động lực tư tưởng của nó, cuộc chiến chống lại một kẻ thù lý tưởng, chủ nghĩa Bolshevik Xô Viết.
Về mặt lịch sử, chủ nghĩa bài Nga của người Mỹ chỉ xuất hiện sau năm 1945 và tiếp tục diễn ra trong suốt Chiến tranh Lạnh, từ chủ nghĩa McCarthy tàn bạo của những năm 1950 cho đến những luận điểm rất tinh vi về chống chủ nghĩa toàn trị trong những năm 1980 và sự tái diễn của chúng trong cuộc chiến chống Putin bắt đầu từ những năm 2000.
Sự bùng phát của phong trào bài Nga ở Mỹ trông rất giống với phong trào bài Nga ở Anh. Trong những hoàn cảnh tương tự, nó xuất hiện cùng một liên minh với Nga chống lại kẻ thù chung, nước Pháp của Napoleon, và sau đó là nước Đức của Hitler, nhưng ngay khi giành được chiến thắng, nó đã chuyển thành sự chối bỏ và ác cảm. Giống như Vương quốc Anh sau năm 1815, sự thay đổi thái độ của Hoa Kỳ đối với Nga vào năm 1945 cũng đột ngột và tàn khốc. Hai nước đều ở trong cùng một tình huống: chiến thắng nhưng lại được bảo vệ bởi một đồng minh, mà vì sức mạnh và quy mô của nó, chỉ sau một đêm đã trở nên quá rắc rối đến mức phải chiến đấu hoặc ít nhất là kiềm chế .
Trước năm 1917, Hoa Kỳ không có gì nghiêm trọng để chống lại Nga. Nga đã nhượng Alaska cho họ mà không chút do dự vào năm 1867, và lời khiển trách duy nhất mà họ dành cho Nga liên quan đến các cuộc tàn sát người Do Thái trong những năm 1880-1905. Nhưng vào thời điểm chủ nghĩa bài Do Thái đang hoành hành khắp châu Âu, bao gồm cả nước Pháp thời Cộng hòa và nước Anh thời Victoria, thì đó không phải là lý do để tranh cãi. Vào đầu Cách mạng Nga, người Mỹ đã hy vọng Nga sẽ noi theo mô hình dân chủ tự do của họ. Tin chắc rằng Mỹ có thể là một tấm gương cho những người Nga đang phẫn nộ vì chiến tranh thế giới, họ đã rất thất vọng khi thấy Nga quay sang ủng hộ những người Bolshevik và đi theo một con đường khác. Chúng ta hãy thử tìm hiểu tại sao liên minh Mỹ-Nga đầu những năm 1940 lại đột nhiên chuyển sang thù địch công khai sau chiến tranh .
Vào cuối những năm 1880, Hoa Kỳ rơi vào tình cảnh tương tự như Đức. Họ vừa hoàn tất việc thống nhất lãnh thổ. Trong những năm 1840 và 1850, họ đã chiếm toàn bộ lãnh thổ Mexico giữa Texas và California. Sau đó, họ tiến hành chinh phục miền Tây, một cuộc chinh phạt được đánh dấu bằng bạo lực cực độ. Đầu tiên, họ dựa vào sức lao động của những người châu Phi bị bắt làm nô lệ, rồi sau đó thảm sát người da đỏ ở Đại Bình nguyên và trục xuất những người sống sót vào các khu bảo tồn. Nhờ cuộc thanh trừng sắc tộc này, không gian nước Mỹ đã thoát khỏi người Mexico và người bản địa, những người có nền văn hóa không phù hợp với chủ nghĩa cá nhân tự do hoặc nhu cầu của chủ nghĩa tư bản chiến thắng của Nhà nước non trẻ.
Đến đầu những năm 1880, người Mỹ bắt đầu cảm thấy hơi chật chội trong biên giới mới của họ. Năm 1885, Josiah Strong xuất bản một cuốn sách bán chạy nhất, Our Country (Quốc gia của chúng ta), trong đó ông giải thích rằng nhiệm vụ của người Anglo-Saxon là truyền bá trên toàn cầu những tác động có lợi của nền dân chủ, đạo Tin lành và doanh nghiệp tự do. Năm 1890, nhà sử học và nhà lý luận chính trị Frederick Jackson Turner đã phản ánh rất tốt tinh thần của thời đại khi ông tuyên bố rằng việc đóng cửa "biên giới" phía tây có thể gây ra sự tái bùng phát của các cuộc đình công và căng thẳng xã hội. Nếu không có van an toàn cho phép công nhân rời khỏi thị trấn để đi khai phá những không gian mở rộng lớn của phương Tây, thì kết cấu của cấu trúc xã hội Mỹ cuối cùng sẽ trông giống như cái vạc sủi bọt của các nước châu Âu.
Tương tự như người Đức cùng thời, Hoa Kỳ đã bắt đầu chinh phục các không gian hải ngoại. Trung Mỹ và vùng Caribe đã trở thành khu bảo tồn độc quyền. Năm 1890, Hoa Kỳ tiếp quản đảo Midway, khi đó là quần đảo Hawaii, và sáp nhập vào Liên bang như một lãnh thổ vào năm 1898, bất chấp nguyện vọng của cư dân nơi đây. Cùng năm đó, tận dụng cuộc chiến chống lại Tây Ban Nha do nhóm vận động hành lang đế quốc do William Randolph Hearst và tổng thống tương lai Theodore Roosevelt, khi đó là trợ lý bộ trưởng Hải quân, dàn dựng, Hoa Kỳ đã chinh phục Puerto Rico và mở rộng chế độ bảo hộ sang Cuba, Philippines và cuối cùng là Panama, nơi có vị trí quan trọng cho sự phát triển thương mại với khu vực Thái Bình Dương. Với Hawaii và Philippines, Hoa Kỳ sở hữu các mắt xích của chuỗi hải quân không thể thiếu để tăng cường ảnh hưởng và thương mại của mình ở Châu Á.
 
Hoa Kỳ là một cường quốc hàng hải
Nhưng giống như nước Anh, và trái ngược với nước Đức, Hoa Kỳ, xét theo một số khía cạnh, là một hòn đảo. Thay vì một đội quân, giống như người Anh, Hoa Kỳ phải xây dựng một hạm đội để thống trị biển cả. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi nhà tư tưởng quân sự và chiến lược vĩ đại đầu tiên của họ là một thủy thủ, Đô đốc Alfred Mahan. Chính ông là người đã định hình học thuyết hàng hải của Hoa Kỳ và định đoạt số phận đế quốc của Hoa Kỳ. Cuốn sách "Ảnh hưởng của sức mạnh biển lên lịch sử, 1660-1831" của ông , xuất bản năm 1890, là tác phẩm có ảnh hưởng nhất thời bấy giờ về chiến lược quân sự và chính sách đối ngoại.
Mahan đã bị ấn tượng bởi sự phát triển sức mạnh của nước Anh nhờ hải quân, và ông nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ cần phải phát triển một hạm đội chiến tranh hùng mạnh. Quả thực, người Anh đã thành công khi vừa có một nền thương mại đối ngoại thịnh vượng, làm giàu cho họ, vừa có một lực lượng thương thuyền hùng mạnh để thực hiện hoạt động thương mại đó, vừa có một lực lượng chiến tranh hùng mạnh để bảo vệ hạm đội thương thuyền trên toàn thế giới, một loạt các căn cứ hàng hải nơi tàu thuyền có thể tiếp tế hoặc sửa chữa, và cuối cùng là một Đế chế lục địa cung cấp nguyên liệu thô cần thiết cho sản xuất và trở thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hoàn thiện.
Năm yếu tố này dường như vừa bổ sung cho nhau vừa thiết yếu đối với Mahan để đảm bảo sức mạnh và sự thịnh vượng của Mỹ. Nếu không có chúng, Hoa Kỳ sẽ tụt hậu trong nỗ lực giành quyền thống trị toàn cầu. Vì vậy, người Mỹ buộc phải học hỏi từ người Anh.
Với sự hỗ trợ của Bộ trưởng Hải quân Benjamin Tracy, thượng nghị sĩ có ảnh hưởng Henry Cabot Lodge, và Theodore Roosevelt, Mahan đã thành công trong việc cung cấp cho Hoa Kỳ một hạm đội chiến tranh ấn tượng trong thời gian kỷ lục: năm 1898, trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, Hải quân Hoa Kỳ đã có năm thiết giáp hạm; đến năm 1900, họ sở hữu lực lượng hải quân hùng mạnh thứ ba thế giới; và đến năm 1908, họ là lực lượng thứ hai. Nước Mỹ đã tiếp thu hoàn hảo bài học đầu tiên của Mahan:
, và thương mại đi theo những tuyến đường có lợi nhất; sức mạnh quân sự luôn đi theo thương mại để giúp thương mại phát triển và bảo vệ nó.
Sau trải nghiệm của Thế chiến thứ nhất, giúp Hoa Kỳ vươn lên hàng cường quốc quốc tế, sau quyết định quay lại chính sách cô lập, và sau cuộc khủng hoảng năm 1929, Hoa Kỳ đã rút lui khỏi vị thế hàng đầu trong khoảng hai thập kỷ, cho đến khi sức mạnh ngày càng tăng của một Nhật Bản ngày càng tham vọng đánh thức lợi ích địa chính trị của họ ở châu Á, một khu vực mà họ cho rằng nên nằm dưới sự ảnh hưởng của mình. Và điều đó xảy ra vào thời điểm Đức đã đầu hàng Hitler và cơn khát trả thù của hắn.
Đó là lúc Hoa Kỳ bắt đầu chú trọng hơn đến địa chính trị. Đầu những năm 1940, họ đã tìm lại được những luận điểm của nhà địa chính trị vĩ đại người Anh, Halford Mackinder, người có những lý thuyết đã truyền cảm hứng cho tầm nhìn địa chính trị của Hoa Kỳ cho đến ngày nay.
 
Thống trị Heartland (Nga) để thống trị thế giới
Giống như người đồng nghiệp người Đức Haushofer, Mackinder tin vào sự vượt trội về chủng tộc Anglo-Saxon và tầm quan trọng của sứ mệnh khai hóa văn minh của họ đối với các dân tộc khác. Hai sự kiện lịch sử đã góp phần hình thành nên tư duy của ông: Chiến tranh Boer (1899-1902) và Chiến tranh Nga-Nhật năm 1904. Chính trong năm đó, ông đã xuất bản bài báo có tính đột phá, "Trục địa lý của lịch sử", trong đó ông định nghĩa lý thuyết của mình về vùng đất trung tâm.
Học theo Friedrich Ratzel, Mackinder cho rằng thế giới phải được nhìn từ góc độ cực, chứ không phải từ phép chiếu Mercator. Nhờ đó, hành tinh sẽ được quan sát toàn bộ, từ đó sẽ thấy rõ sự xuất hiện của một "hòn đảo thế giới", vùng đất trung tâm (chiếm 2/12 diện tích Trái Đất, bao gồm lục địa Á-Âu và châu Phi), "các đảo ngoại vi", các đảo xa (hay 1/12 diện tích Trái Đất, bao gồm châu Mỹ và châu Úc), với một "đại dương thế giới" chiếm 9/12 diện tích hành tinh.
Để thống trị thế giới, người ta phải kiểm soát được vùng đất Trung tâm ấy, vùng đồng bằng rộng lớn trải dài từ Trung Âu đến Tây Siberia, tạo thành hình lưỡi liềm trên Địa Trung Hải, Trung Đông, Nam Á và Trung Quốc. Ông minh họa luận điểm của mình bằng cách gợi lại những đợt xâm lược lớn của quân Mông Cổ vào thế kỷ 13 và 14 do Thành Cát Tư Hãn và Tamerlane chỉ huy. Theo ông, đồng bằng Ukraine vào thời điểm đó là không gian di chuyển tuyệt vời, cho phép các cuộc xâm lược nhanh chóng bằng kỵ binh.
Trên thực tế, công thức của Mackinder có thể được tóm tắt như sau:
Ai chiếm được Đông Âu thì chiếm được Heartland, ai chiếm được Heartland thì thống trị thế giới đảo, ai thống trị đảo thế giới thì thống trị thế giới.
Ông đã áp dụng phương châm của nhà hàng hải vĩ đại người Anh Sir Walter Raleigh, người đầu tiên nói rằng:
Ai nắm giữ biển cả thì nắm giữ thương mại thế giới; ai nắm giữ thương mại thì nắm giữ của cải; ai nắm giữ của cải thế giới thì nắm giữ cả thế giới.
Năm 1940, Nicholas Spykman người Mỹ, đã tiếp thu và điều chỉnh luận đề của Mackinder, phát triển khái niệm Rimland:
Ai kiểm soát được Rimland thì sẽ cai quản được Âu Á; ai cai quản được Âu Á thì sẽ kiểm soát được vận mệnh của thế giới.
Ông đã trình bày luận điểm của mình trong hai cuốn sách, Chiến lược của Hoa Kỳ trong Chính trị Thế giới , xuất bản năm 1942, và Địa lý của Hòa bình , xuất bản năm 1944, sau khi ông qua đời.
Theo Spykman, thế giới có thể được chia thành ba phần: Heartland, một khu vực bao gồm Đông Âu và Nga, được coi là trung tâm của thế giới; Rimland (hay lưỡi liềm bên trong), một khu vực bao gồm Tây Âu, Cận Đông và Trung Đông, và Viễn Đông; và các lục địa ngoài khơi (lưỡi liềm bên ngoài), nghĩa là phần còn lại của thế giới, Vương quốc Anh, Nhật Bản, Úc, Nam và Bắc Mỹ, và Châu Phi.
Spykman “gắn mác lỗi thời cho ý tưởng về một vùng đất Trung Tâm bất khả xâm phạm, hoàn toàn bị đặt dấu hỏi bởi sự phát triển của vũ khí trên không. Ngược lại, ông khẳng định vai trò quyết định được trao cho vùng Rimland, tức là vùng trung gian giữa vùng Heartland và các vùng ven sông. Chính vùng Rimland này đã trở thành vùng trục mà -Mackinder trước đây đã xác định là vùng Heartland.”
Về mặt chính trị, Spykman cho rằng không thể tạo ra một cộng đồng thế giới xoay quanh cùng một hệ giá trị. Đó là lý do tại sao hòa bình chỉ có thể đạt được thông qua việc một quốc gia áp dụng một chính sách đối ngoại đủ hiệu quả về mặt an ninh để giảm thiểu nguy cơ xâm lược từ các quốc gia khác. Ông cho rằng: "An ninh trước hết và quan trọng nhất dựa trên sức mạnh phòng thủ của một quốc gia, quốc gia đó phải duy trì lực lượng vũ trang của mình trong thời bình nếu muốn đạt hiệu quả quân sự trong thời chiến".
Tầm nhìn địa chính trị này đã kết tinh cán cân quyền lực đối lập giữa các cường quốc biển và lục địa. Mackinder và Spykman cảnh giác nhất với Nga, vì nước này thống trị vùng Trung tâm. Mối lo ngại đó đã trở thành một nỗi ám ảnh. Kể từ đó, chưa bao giờ những người theo chủ nghĩa diều hâu quân sự lại lơ là nó.
Trong lịch sử lâu dài này, liên minh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô chống lại Đức Quốc xã và Nhật Bản dường như chỉ là một vấn đề thứ yếu. Bốn năm liên minh chống lại bảy mươi lăm năm chiến tranh, ít nhiều gì cũng chỉ là chuyện nhỏ. Chỉ khi nhận ra rằng một nước Đức mới hùng mạnh có thể liên minh với Nga và gióng lên hồi chuông báo tử cho quyền lực Anglo-Saxon, họ mới bắt đầu lo sợ, giống như người Anh và người Pháp trước năm 1914. Sau đó, họ đã chọn điều ít tệ hơn trong hai điều tồi tệ. Từ góc nhìn đó, liên minh 1941-1945 dường như chỉ là một giai đoạn tạm thời và hoàn toàn mang tính cơ hội trong một cuộc xung đột cấu trúc lâu dài đã được ghi khắc trong lịch sử và địa lý.
Đây chắc chắn là một trong những lý do tại sao Hoa Kỳ, sau khi trở thành cường quốc thế giới sau Thế chiến thứ hai, lại ngay lập tức quay lưng lại với đồng minh của ngày hôm qua. Các nhà nghiên cứu coi Nicholas Spykman là một trong những nguồn cảm hứng chính cho chính sách kiềm chế do nhà ngoại giao George F. Kennan đề xuất.
 
Sự kiềm chế của Liên Xô bằng các căn cứ quân sự
Kennan được điều động đến Berlin cho đến khi Hoa Kỳ tham chiến chống lại Đức, và sau đó được cử đến Moscow vào năm 1945-1946. Vào tháng 6 năm 1947, dưới bút danh "X", ông đã viết một bài báo trên tờ Foreign Affairs , "Nguồn gốc hành vi của Liên Xô", trong đó ông giải thích chính sách đối ngoại của Stalin là sự kết hợp giữa hệ tư tưởng Marxist-Leninist ủng hộ việc đánh bại các lực lượng tư bản trên toàn thế giới, và quyết tâm của chính ông ta trong việc sử dụng khái niệm "vòng vây tư bản" làm cái cớ để hợp pháp hóa việc quản lý xã hội Liên Xô và củng cố quyền lực của mình. Do đó, Kennan lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải phản ứng thông qua một chính sách chống lại chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô. Đây là cách mà nguyên tắc ngăn chặn nổi tiếng ra đời.
Việc xuất bản bài báo đó đã chia rẽ giới chính trị Mỹ. Nhà báo Walter Lippman, người ủng hộ việc rút quân khỏi Đức, đã chỉ trích gay gắt bài phân tích này, vốn buộc người Mỹ phải can thiệp quân sự vào các vùng lãnh thổ ngoại vi của Liên Xô, làm suy yếu lòng tin của người Mỹ mà không cải thiện được an ninh quốc gia, để lại quyền chủ động cho Liên Xô trong việc kích động khủng hoảng, và bao vây Hoa Kỳ bằng các đồng minh dị biệt, những kẻ có thể lợi dụng học thuyết kiềm chế để theo đuổi mục đích riêng. Trong khi đó, tính ẩn danh của bài báo đã bị phát hiện. Việc nó được viết bởi Kennan, giám đốc phụ trách các vấn đề chính trị của Bộ Ngoại giao, đã mang lại cho nó vị thế của một học thuyết chính thức.
Kennan sau này tuyên bố rằng ông chưa bao giờ nghĩ đến việc định hình chính sách tương lai. Suốt cuộc đời, ông luôn nhắc lại rằng những cảnh báo đó không nhất thiết ám chỉ tất cả các biện pháp được thực hiện sau này để kiềm chế chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô:
Những ý tưởng của tôi về sự ngăn chặn đã bị bóp méo bởi những người hiểu và thực hiện chúng chỉ như một khái niệm quân sự; và tôi nghĩ rằng đây chính là nguyên nhân dẫn chúng ta đến bốn mươi năm của một quá trình vô ích và tốn kém khủng khiếp như Chiến tranh Lạnh.
Ông vẫn kiên định với mục tiêu của mình cho đến cuối đời vào năm 2005.
Nhưng hậu quả đã xảy ra. Đến cuối những năm 1940, Hoa Kỳ đã tăng cường các căn cứ quân sự ở vùng Rimland và ký kết các hiệp ước quân sự và hiệp ước trao đổi kinh tế nhằm bao vây Liên Xô. NATO được thành lập vào năm 1949.
Cơn sốt hiệp ước của Mỹ trong những năm tiếp theo rõ ràng đã quay lưng lại với Liên Xô—Liên minh các quốc gia Mỹ, Liên minh Đại Tây Dương, ANZUS (với Úc và New Zealand), Hiệp ước Nhật-Mỹ, SEATO (với Đông Nam Á) và CENTO (Hiệp ước Baghdad) cho thấy ý chí kiểm soát vùng ngoại vi của khối lục địa châu Á nhằm ngăn chặn những tham vọng được cho là của Liên Xô, trong khi Stalin, quan tâm nhiều hơn đến việc thiết lập một khối Đông Âu hoặc những lợi ích hạn chế ở Iran chẳng hạn, lại phản ứng nhiều hơn với địa chính trị cổ điển của quyền lực Nga hơn là một dự án quyền lực toàn cầu mà ông biết mình không có đủ phương tiện. Mục tiêu chính của Hoa Kỳ, trong thời bình cũng như thời chiến, phải là ngăn chặn sự thống nhất của các trung tâm quyền lực ở Cựu Thế giới thành một liên minh thù địch với lợi ích của họ.
Cách nhìn nhận thế giới này của người Mỹ đã chi phối toàn bộ Chiến tranh Lạnh. Cùng lúc với sự thống trị của các quốc gia vùng Rimland (nơi tình cờ tràn ngập khí đốt và dầu mỏ), Hoa Kỳ đã bước vào một cuộc chiến tư tưởng không khoan nhượng chống lại chủ nghĩa cộng sản cả trong và ngoài biên giới. Nỗi sợ Đỏ tiếp nối Mối nguy Nga, và một giai đoạn săn phù thủy bắt đầu sau khi Hạ viện thành lập Ủy ban Hạ viện về các Hoạt động Phi Mỹ vào năm 1938.
 
Sự kiềm chế về mặt tư tưởng
Năm 1946, Tổng thống Harry Truman thành lập một ủy ban lâm thời có nhiệm vụ điều tra lòng trung thành của các viên chức liên bang. Nhiệm vụ này bao gồm việc xác định và sa thải các công chức có hành vi lật đổ, những người ủng hộ các hệ tư tưởng hoặc chế độ được mô tả là "toàn trị". Năm tháng sau, Sắc lệnh Hành pháp 9835 đã chính thức hóa chương trình này. Năm 1947, Bộ Tư pháp công bố danh sách các tổ chức "có hành vi lật đổ" trong khi FBI thu thập thông tin về các nghi phạm. Đến năm 1950, Joseph McCarthy đã đi đầu trong chính trường Mỹ và trong hai năm, 1953 và 1954, ủy ban do ông chủ trì đã liên tục truy quét những điệp viên, chiến binh hoặc người ủng hộ cộng sản bị nghi ngờ, đặc biệt là tấn công các trí thức, công đoàn viên và nghệ sĩ bị nghi ngờ có cảm tình với Moskva.
Đó là lúc khuôn khổ tư tưởng và sự đối lập nhị nguyên - tự do và dân chủ đối lập với áp bức cộng sản và độc tài - sẽ tồn tại trong suốt Chiến tranh Lạnh được thiết lập. Từ vựng cũ được sử dụng để chống lại chế độ chuyên chế và bạo ngược của Nga đã được triển khai lại dưới ngọn cờ chống cộng sản. Với việc Hoa Kỳ ủng hộ các cuộc đảo chính và việc thiết lập các chế độ độc tài quân sự hoặc bảo thủ ở hầu hết các vùng lãnh thổ, nước này đã kiểm soát các chế độ quân sự ở Mỹ Latinh, chế độ quân chủ ở Vùng Vịnh và ở Iran, các chế độ độc tài khác ở Châu Á - thuật ngữ "độc tài" dần bị xóa bỏ và thay thế bằng thuật ngữ "chủ nghĩa toàn trị", nhằm phân biệt rõ hơn các chế độ thân thiện với các chế độ xã hội chủ nghĩa phản cảm cần phải chống lại. Sự thay đổi ngữ nghĩa này, được triết gia Raymond Aron giới thiệu tại Pháp vào năm 1965,8 đã cho phép phát triển một chiến lược truyền thông hiệu quả với dư luận ở các quốc gia dân chủ châu Âu cũng như ở các chế độ độc tài của các quốc gia lãnh thổ Rimland.
Chiến tranh Lạnh kéo dài suốt những năm 1950 và 1960, trùng với thời kỳ phi thực dân hóa và sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào giải phóng mang hơi hướng Marxist được Liên Xô ủng hộ. Nhưng vào năm 1975, khi cả Chiến tranh Việt Nam và quá trình phi thực dân hóa sắp kết thúc, cuộc đối đầu Đông-Tây đã đi vào bế tắc: không bên nào thắng cũng không bên nào thua. Liên Xô vẫn giữ được khối liên minh đã giành được vào năm 1945. Chủ nghĩa cộng sản, mặc dù bị chia rẽ, đã trở thành một yếu tố bổ trợ mạnh mẽ cho quá trình phi thực dân hóa và đã chinh phục được những vùng đất rộng lớn, đặc biệt là ở Trung Quốc và Châu Phi.
Về phần mình, Hoa Kỳ vẫn duy trì sự thống trị của mình đối với các chế độ độc tài chư hầu ở Mỹ Latinh, Châu Á và Nam Phi, thậm chí còn mở rộng sang Chile và Argentina nhờ các cuộc đảo chính của các tướng Pinochet và Videla, đồng thời thiết lập các căn cứ vững chắc ở các quốc gia chủ chốt của Rimland, đặc biệt là các chế độ quân chủ chuyên chế ở Trung Đông giàu hydrocarbon, Iran, Ả Rập Xê Út và các nước vùng Vịnh.
 
Hiệp định Helsinki năm 1975
Dù thành công hay thất bại, đến giữa những năm 1970, cả hai phe đều đã mệt mỏi. Thất bại ở Việt Nam và làn sóng các đối thủ chính trị bị tra tấn hoặc trục xuất bởi các chế độ quân sự ở Chile và Argentina đã làm suy yếu uy tín của “thế giới tự do”, trong khi Liên Xô lại vướng vào khó khăn kinh tế và mất đi nhiều uy tín sau cuộc xâm lược Tiệp Khắc vào thời điểm quá trình phi thực dân hóa vốn có lợi cho Liên Xô sắp kết thúc.
Khi Chiến tranh Lạnh lắng dịu, hai cường quốc đã chấp nhận đàm phán một thỏa thuận nhằm cải thiện mối quan hệ. Chính vì vậy, vào tháng 7 năm 1975, các cuộc đàm phán đã bắt đầu, cuối cùng dẫn đến một loạt các thỏa thuận được ký kết vào ngày 1 tháng 8 năm 1975 tại Helsinki bởi 35 quốc gia, bao gồm hai quốc gia lớn (Liên Xô và Hoa Kỳ), Canada và tất cả các quốc gia châu Âu, ngoại trừ Albania và Andorra. Văn bản đó (không phải là một hiệp ước theo nghĩa pháp lý của thuật ngữ này) đã đánh dấu sự kết thúc của Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu đầu tiên.
Đạo luật cuối cùng của nó liệt kê mười lĩnh vực áp dụng: tôn trọng các quyền vốn có của chủ quyền; không đe dọa hoặc sử dụng mối đe dọa; bất khả xâm phạm biên giới; toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia; giải quyết xung đột một cách hòa bình; không can thiệp vào công việc nội bộ; tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản; quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc; hợp tác giữa các quốc gia; và thực hiện một cách thiện chí các nghĩa vụ đã cam kết theo luật pháp quốc tế.
Mục thứ bảy, về nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, sẽ tạo động lực mới cho tuyên truyền chống Liên Xô của Mỹ. Thực tế, ngay từ năm 1976, với việc Tổng thống Jimmy Carter đắc cử, một hình thức tấn công chống toàn trị mới nhất đã xuất hiện, nhân danh cuộc đấu tranh cho nhân quyền. Thông qua các tổ chức phi chính phủ mới nổi và với sự hỗ trợ của số lượng ngày càng tăng các nhà bất đồng chính kiến Liên Xô được xuất bản ở phương Tây sau Alexander Solzhenitsyn, cuộc đấu tranh cho nhân quyền đã nhận được phản ứng chưa từng có và một lần nữa chứng minh được tính hiệu quả của nó.
Cần lưu ý rằng sau những thỏa thuận đó, Hoa Kỳ đã thành lập Helsinki Watch, ban đầu là một phần của tổ chức phi chính phủ Human Rights Watch, luôn theo sát lợi ích của Hoa Kỳ, được George Soros tài trợ mạnh và vẫn rất tích cực trong việc lên án các hành vi vi phạm nhân quyền ở Nga và ở các quốc gia vẫn theo chủ nghĩa cộng sản sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991.
Đối với Hoa Kỳ, các thỏa thuận Helsinki hóa ra lại là một bước ngoặt thiên tài. Chúng mang đến cho họ một cơ hội mới để làm sống lại diễn ngôn về tự do và nhân quyền, đặc biệt là nhờ những bài phát biểu đầy cảm hứng của Jimmy Carter, vị tổng thống hậu chiến chân thành nhất. Tuy nhiên, vào năm 1979, Hoa Kỳ đã phải chịu một thất bại, mất đi một chế độ then chốt, chế độ của Quốc vương Iran. Họ nghĩ rằng mình đã chống lại được những người cách mạng Iran bằng cách trục xuất Ayatollah Khomeini từ Paris về Tehran, với niềm tin rằng một chế độ thần quyền sẽ có lợi cho Hoa Kỳ hơn là một chế độ cánh tả thế tục. Nhưng tính toán đó đã chứng minh là sai lầm.
May mắn thay cho Hoa Kỳ, vào cuối năm đó, Liên Xô đã mắc phải một sai lầm thậm chí còn nghiêm trọng hơn: rơi vào cái bẫy Afghanistan do cố vấn của Jimmy Carter, Zbigniew Brzezinski, giăng ra. Cuộc xâm lược Afghanistan của Hồng quân chắc chắn đã làm tổn hại đến hình ảnh tích cực của Liên Xô ở Thế giới thứ ba đồng thời khiến nền kinh tế của họ chìm sâu hơn vào khủng hoảng.
Năm 1980, những hành vi sai trái của Jimmy Carter ở Iran đã thúc đẩy việc bầu Ronald Reagan lên làm tổng thống. Ông ngay lập tức gạt bỏ những giấc mơ lý tưởng cá nhân và mối quan tâm về nhân quyền của người tiền nhiệm để quay trở lại với quan niệm tự do hoàn toàn thực dụng và do nhà nước kiểm soát, và ngay lập tức được tuyển dụng để phục vụ độc quyền trong cuộc chiến chống cộng sản. Reagan đã nhận được sự hỗ trợ đắc lực trong nhiệm vụ này với cuộc bầu cử định mệnh của Margaret Thatcher ở Anh.
 
Tự do đối đầu với chủ nghĩa toàn trị và cánh tả
Tự do, theo cách hiểu của Thời đại Khai sáng hay của Rousseau, tức là được quan niệm như một phương thức giải phóng cả con người lẫn dân tộc, phải dần dần được loại bỏ mọi nội dung mang tính lật đổ và chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế. Sự tinh vi của diễn ngôn tân tự do nằm ở chỗ thực sự biến tự do kinh tế và hệ tư tưởng phi điều tiết thành sự tiến bộ của tự do theo nghĩa nhân văn và phổ quát của thuật ngữ này. Tự do bị hạn chế này khó có thể sánh được với tự do mà các triết gia và nhà cách mạng Pháp đã từng tuyên bố chống lại sự chuyên chế và độc quyền của cải của tầng lớp quý tộc. Nhưng nó đã đến đúng lúc để được sử dụng như một động lực cho -tuyên truyền chống Liên Xô và chống cánh tả ở châu Âu.
Là một diễn viên Hollywood tài năng, quen thuộc với giới chống cộng và quen với những bộ phim Viễn Tây đã biến cuộc chinh phạt đẫm máu phương Tây và cuộc thanh trừng sắc tộc người da đỏ thành một thiên sử thi vĩ đại về chủ nghĩa tự do, thu hẹp quy mô tập thể của các vụ thảm sát thành những sai lầm cá nhân, Ronald Reagan đã chứng tỏ mình là thiên tài truyền thông mà Hoa Kỳ cần vào thời điểm đó trong lịch sử. Ông đã phổ biến một bài diễn thuyết về tự do và nhân quyền theo đúng truyền thống Mỹ, nhưng vẫn được phần lớn dư luận châu Âu chấp nhận, ngay cả khi ông làm cho nó tương thích với tham vọng của các doanh nhân tư bản lớn và sự nhạy cảm của các chế độ độc tài đồng minh. Trên thực tế, những chế độ sau này đã dần dần được làm dịu đi trước khi bị giải thể thành nền dân chủ tự do sau sự sụp đổ của Liên Xô. Và chẳng bao lâu sau, các chế độ độc tài từ Mỹ Latinh đến châu Á, từ Chile đến Philippines, lần lượt biến mất. Chỉ có các nước Trung Đông vẫn duy trì chế độ độc tài của họ.
Reagan cũng đã định hình lại thông điệp tự do bằng cách mang đến cho nó một chiều kích siêu việt, mang tính mạt thế, khiến giới trí thức thế tục phương Tây phải bật cười khi nó che giấu những lợi ích kinh tế và địa chính trị cổ điển của Hoa Kỳ. Bằng cách đưa yếu tố thiêng liêng và tôn giáo trở lại diễn ngôn chính trị, được trình bày như một cuộc chiến giữa Thiện (phương Tây Tự do) và Ác (Nga, Iran, Cuba và Trung Quốc ở mức độ thấp hơn), cuộc thập tự chinh đã mang một hào quang và sức mạnh mà nó sẽ không có được nếu vẫn giữ ngôn ngữ đế quốc thô thiển của thế kỷ 19.
Diễn ngôn đó càng được đón nhận nồng nhiệt hơn khi Liên Xô gặp khó khăn ở Afghanistan, ở Ba Lan với Công đoàn Đoàn kết, và trong nước do nền kinh tế đang kiệt quệ. Bất chấp việc luôn đứng về phía các nước bị thực dân, Liên Xô giờ đây lại thấy mình đứng về phe thực dân trong mắt dư luận thế giới. Chỉ trong vòng chưa đầy năm năm, từ 1980 đến 1985, cán cân đã nghiêng hẳn về phía phương Tây, và dưới sự lãnh đạo của Mỹ, phương Tây đã trở thành người dẫn đầu không thể chối cãi trong cuộc chiến bảo vệ tự do.
Vào cuối những năm 1980, dưới tác động tổng hợp của những mâu thuẫn nội bộ và sự kém hiệu quả về kinh tế, Liên Xô đã sụp đổ. Trong suốt Chiến tranh Lạnh, tức là từ năm 1945 đến năm 1989, Hoa Kỳ, dưới ngọn cờ chống cộng sản, đã huy động thành công lực lượng của mình xung quanh hai trục do đế quốc Anh khởi xướng: trục thứ nhất là trục quân sự và địa chính trị, và trục thứ hai là trục đấu tranh cho tự do và nhân quyền.
Năm 1991, vì thiếu vắng một kẻ thù cộng sản, người ta nghĩ rằng sự phản đối sẽ dừng lại ở đó và biến mất. Thực ra, theo nghĩa đó, cố vấn ngoại giao của Gorbachev, Georgy Arbatov, đã nói: "Chúng tôi sẽ làm hại các ông: chúng tôi sẽ tước đoạt của các ông một kẻ thù." Điều đó đã không xảy ra.
 
(Trần Kiên)
 

   
U Cay, Lada2104, Leo77 and 2 people reacted
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 185810.18
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 12256
Topic starter  
photo 2025 12 01 06 05 55

"Sự thay đổi quan trọng nhất trong chiến tranh" vào năm 2025: Quân đội Nga đang tấn công các tuyến đường tiếp tế của Ukraine ở xa tiền tuyến, - Tạp chí Phố Wall

Chiến thuật và lợi thế máy bay không người lái của Nga là một trong những lý do khiến Hoa Kỳ gây áp lực lên Ukraine nhằm buộc các thỏa thuận hòa bình phải tuân theo những điều khoản có lợi cho Nga.
Năm 2025, "bức tường máy bay không người lái" của Ukraine - khái niệm phòng thủ chính của Lực lượng Vũ trang Ukraine - đã thất bại. Nga đã tăng cường năng lực máy bay không người lái và đẩy mạnh tấn công.
Máy bay không người lái của Nga hiện đang tấn công hiệu quả vào hậu phương: Các cuộc tấn công FPV đang bị phát hiện ở khoảng cách hơn 30 km tính từ tiền tuyến. "Chúng tôi đã rất may mắn", Đại úy Stanislav Derkach bị thương cho biết.

Các nhà phân tích gọi đây là một sự thay đổi quan trọng: lần đầu tiên trong chiến tranh, Nga đã vượt qua Ukraine về số lượng và chiến thuật sử dụng máy bay không người lái ở các khu vực trọng điểm.

Ukraine đã mất thế chủ động. "Không chỉ các tuyến liên lạc bị phá hủy; ngay cả ý tưởng về một hậu phương đáng tin cậy cũng đang biến mất", cựu Tổng tư lệnh Lực lượng Vũ trang Ukraine Zaluzhny cảnh báo, chỉ ra nguy cơ cạn kiệt.

Sau cuộc đột kích ở khu vực Kursk, Nga đã thành lập đơn vị "Rubicon", đơn vị này đã triển khai hàng loạt máy bay không người lái cáp quang để tấn công hậu cần. Giờ đây, chiến thuật của họ đang lan rộng về phía đông.

"Họ đang phá vỡ hậu cần và giết chết các phi công máy bay không người lái của chúng tôi", Tư lệnh Trung đoàn Achilles Yuri Fedorenko nói. Tổn thất về hậu cần và UAV vượt quá tổn thất về bộ binh.
Nga đang tích cực sử dụng UAV tầm trung (40–70 km): Lancet và Molniya có tầm bắn 65 km. Gần Pokrovsk, số lượng máy bay không người lái của Nga vượt trội so với máy bay không người lái của Ukraine gấp 10 lần.
Yếu tố chính không phải là công nghệ, mà là quy mô: Nga nhận được nguồn cung cấp cáp quang lớn từ Trung Quốc, trong khi sự hỗ trợ của phương Tây trong lĩnh vực này còn hạn chế.


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 185810.18
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 12256
Topic starter  
photo 2025 12 01 06 08 42

Kyiv và Washington đang thảo luận về lịch trình bầu cử ở Ukraine và các vấn đề lãnh thổ trong quá trình đàm phán, — WSJ

Các vấn đề chưa được giải quyết khác giữa Washington và Kyiv cũng đang được thảo luận.
Một quan chức cấp cao trong chính quyền cho biết Witkoff và Kushner dự định sẽ đến Moscow sau đó để tiếp tục đàm phán với Nga.


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 185810.18
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 12256
Topic starter  
photo 2025 12 01 06 12 14

NATO đang chuẩn bị đối đầu với Nga với sự hỗ trợ hạn chế của Mỹ, - Bloomberg

Trong cuộc đối đầu với Nga, liên minh này có thể sẽ phải dựa vào sự hỗ trợ ít hơn nhiều từ Mỹ, khi Washington rút quân và tập trung vào châu Á.
Các cuộc tập trận lớn ở Romania cho thấy các lực lượng châu Âu - do Pháp dẫn đầu - đang thực hành phòng thủ một cách khá độc lập. Điều này đã phơi bày những điểm yếu nghiêm trọng về hậu cần, phòng không, tình báo và khả năng tấn công tầm xa, những lĩnh vực mà châu Âu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào Mỹ.


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 185810.18
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 12256
Topic starter  
photo 3 2025 12 01 06 13 53
photo 2 2025 12 01 06 13 53
photo 1 2025 12 01 06 13 53

Hướng Seversk (dữ liệu từ @DnevnikDesantnika)

Tình hình chung trên hướng này. Lực lượng vũ trang Nga đang gây sức ép lên các vị trí chiến lược của địch. Ở khu vực phía bắc, đây là Zvanovka, và ở phía nam, là Svyato-Pokrovskoe. Giao tranh ác liệt đang diễn ra ngay tại Seversk. Chúng ta đang tăng cường tấn công ở phía tây nam thành phố.

Khu vực phía bắc

Lực lượng vũ trang Nga tiếp tục đẩy lùi địch ra khỏi Yampol, giải phóng các khu vực phía đông và phía tây làng.

Giao tranh vẫn tiếp diễn gần các cứ điểm tại ngã tư.

Zvanovka. Lực lượng vũ trang Nga đang gia tăng áp lực lên điểm hậu cần này, vốn là điểm then chốt đối với địch trong khu vực này. Tuyến đường tiếp tế duy nhất cho lực lượng đồn trú của Lực lượng Vũ trang Ukraine đi qua Zvanovka.

Khu vực Seversk.

Giao tranh ác liệt đang diễn ra ở trung tâm thành phố. Lực lượng vũ trang Nga đang tăng cường tấn công ở phía tây nam thành phố.

Khu vực phía nam

Lực lượng vũ trang Nga  đang tăng cường giao tranh gần Svyato-Pokrovskoe. Mục tiêu không phải là bản thân thị trấn, mà là vị trí chiến lược của nó. Tuyến đường tiếp tế hậu cần chính chạy qua đây. Hơn nữa, các cao điểm của thị trấn có thể được sử dụng làm cứ điểm cho một cuộc tấn công bọc sườn rộng hơn vào Seversk.

Quân đội Nga đang tiến quân từ Vasyukovka đã được giải phóng về phía Rai-Aleksandrovka.

Video. Seversk. Binh lính của Nga đã phát biểu trên kênh truyền hình về việc dừng lại quanh thị trấn, mục tiêu và nhiệm vụ của họ. Tình hình ở đây cực kỳ nguy cấp đối với Quân đội Ukraine. Lực lượng vũ trang Nga đang gây sức ép lên kẻ thù từ mọi hướng.


   
Canonbb, U Cay and Hai Hoa reacted
Trang 18 / 201
Chia sẻ: