KHI SPACEX "ĐÁP" BẰNG CÁCH NỔ TUNG: NGHỆ THUẬT PR VÀ CANH BẠC "KHÔNG CHÂN" TRẦN TRỤI
Nếu theo dõi chuyến bay thử nghiệm thứ 12 (Flight 12) của siêu tên lửa Starship V3 qua các trang tin đại chúng, người đọc dễ có cảm giác nhân loại vừa chứng kiến một kỳ tích công nghệ không tì vết. Những cụm từ như "phóng thử thành công", "tầng trên đáp xuống Ấn Độ Dương" xuất hiện dày đặc như một chiến thắng được lập trình sẵn.
Nhưng nếu tắt âm thanh của các bình luận viên đầy phấn khích, rũ bỏ lớp từ ngữ bóng bẩy của các chuyên gia truyền thông và nhìn thẳng vào hình ảnh vật lý trần trụi ở vài giây cuối: Một khối thép khổng lồ nặng hàng chục tấn lao điên cuồng từ trên trời xuống, bật cháy vài đốm lửa động cơ hãm tốc, rồi va chạm với mặt nước và nổ tung thành trăm mảnh.Trong ngôn ngữ vật lý thuần túy, đó là một vụ rơi tự do và vỡ nát. Nhưng trong phòng xử lý PR của SpaceX, cú nổ ấy được định nghĩa lại bằng một thuật ngữ đầy tính giảm nhẹ: "Hạ cánh mô phỏng thành công" .
Thực chất, cái gọi là "cố tình đáp xuống biển để thử nghiệm an toàn" chỉ là một bức màn nhung truyền thông nhằm che giấu một sự thật trần trụi: SpaceX không thể cho con tàu này đáp xuống đâu cả, bởi vì ở thời điểm hiện tại, nó hoàn toàn... không có chân.
Cuộc chiến PR và chiếc mặt nạ "Tiêu chuẩn kép"
Hãy thử làm một phép thử tư duy: Nếu vật thể nổ tung trên Ấn Độ Dương kia không mang logo SpaceX mà mang cờ Trung Quốc hoặc Nga, hệ thống truyền thông quốc tế sẽ giật tít thế nào?
Chắc chắn, những cụm từ như "Thất bại thảm hại", "Tên lửa nổ tung trên biển", hay "Mối đe dọa từ rác vũ trụ mất kiểm soát" sẽ tràn ngập các mặt báo. Sự cố động cơ Raptor hoạt động không hoàn hảo, bị tắt sớm trong quá trình bay sẽ bị mổ xẻ thành "lỗi kỹ thuật nghiêm trọng", "minh chứng cho sự yếu kém của năng lực chế tạo phần cứng".
Nhưng vì đây là SpaceX, một thực thể gắn liền với lợi ích địa chính trị và danh dự công nghệ của Mỹ, cuộc chơi ngôn từ lập tức đảo chiều. Bản chất của chiến dịch PR này là bảo vệ tính chính danh của dòng vốn. SpaceX sống bằng tiền thuế của người dân Mỹ thông qua các hợp đồng tỷ USD với NASA và Lầu Năm Góc. Truyền thông không thể để công chúng thấy tiền thuế của họ đang bị đem đi "đốt" theo đúng nghĩa đen dưới lòng đại dương.
Do đó, họ phải khoác lên vụ nổ một chiếc áo hoa mỹ: Vụ nổ được gọi là "rã thể chủ động ngoài kế hoạch", cú rơi cắm đầu xuống biển được dịch thành "hạ cánh mô phỏng", và lỗi hệ thống động cơ được ca ngợi là "thuật toán xử lý dự phòng thông minh".
Sự thật về cú né xà lan: Bản mẫu lỗi và cái bẫy "Không chân"
Về mặt logic cơ học, nhiều người sẽ hỏi: Tại sao SpaceX không kéo một cái xà lan khổng lồ ra biển để Starship đáp lên đó, như cách họ vẫn làm rất tốt với tên lửa Falcon 9?
Câu trả lời rất phũ phàng: Starship vốn không được thiết kế để có chân hạ cánh.
Để tối ưu hóa trọng lượng, cắt bỏ khoảng 15 tấn "thịt thừa" nhằm tăng tối đa tải trọng chở vệ tinh thương mại và vũ khí, Elon Musk đã xóa sổ hoàn toàn bộ chân tiếp địa của con tàu. Không có chân, nếu SpaceX có thả một cái xà lan ra biển, Starship sau khi hãm tốc cũng chỉ có thể... đổ rạp xuống và nổ tung trên mặt xà lan. Chưa kể, luồng nhiệt hủy diệt từ cụm động cơ Raptor chạy bằng Methane thừa sức nung chảy và xé toạc lớp boong thép của bất kỳ chiếc tàu bè nào nếu không có hệ thống phun nước giải nhiệt khổng lồ hỗ trợ.
Vậy họ định thu hồi con tàu nặng gần 100 tấn này bằng cách nào?Theo lý thuyết, họ phải dùng đến tháp phóng Mechazilla trên đất liền với hai cánh tay robot khổng lồ (gọi vui là cặp đũa cả). Con tàu phải bay về, treo lơ lửng trên luồng lửa ngay sát tháp phóng ở giây cuối để hai cánh tay robot khép lại, "chụp" lấy hai cái chốt nhỏ trên thân tàu trước khi ngắt động cơ.
Canh bạc "Được ăn cả, ngã về không"Đây là một thiết kế đẩy toàn bộ cái khó từ phần cứng con tàu sang phần cứng bệ phóng, biến tháp phóng thành "tử huyệt" của toàn bộ dự án.Khi Starship hạ cánh, chỉ cần hệ thống máy tính điều hướng thời gian thực bị lệch vài mét, hoặc gió biển giật mạnh khiến con tàu va đập vào tháp, toàn bộ bệ phóng trị giá hàng trăm triệu USD và con tàu sẽ cùng nổ tung. Nếu tháp phóng sập, toàn bộ chương trình Starship của nước Mỹ sẽ bị đóng băng ít nhất 1 đến 2 năm để xây lại.
Chính vì rủi ro "sập tiệm" quá khủng khiếp này, nên ở chuyến bay V3 (Flight 12), khi thuật toán và độ ổn định của động cơ chưa đạt mức hoàn hảo 100%, SpaceX thà cắm đầu nó xuống Ấn Độ Dương cho nổ nát bét để lấy dữ liệu, chứ tuyệt đối không dám đem về gần cái tháp phóng báu vật ở Texas.
Bản chất cốt lõi: Vụ phóng Starship V3 không hề hoành tráng kiểu "thành công rực rỡ" như cách báo chí đang cố công tô vẽ. Đó là một vụ rơi tự do được dự báo trước của một thực thể phần cứng chưa hoàn thiện, không có khả năng tự đáp.
Sự tinh quái của bộ máy PR SpaceX nằm ở chỗ: Họ đã biến một sự thỏa hiệp bắt buộc do bế tắc cấu trúc phần cứng thành một kịch bản mang tính chủ động đầy ngạo nghễ trong mắt công chúng.
Người xem tỉnh táo sẽ nhìn thấy cú nổ dưới biển là hệ quả của một con tàu "không chân", chứ không phải là một bước đi êm ái hướng tới tương lai.
https://vnexpress.net/spacex-phong-thu-ten-lua-manh-nhat-the-gioi-starship-v3-5077209.html
(Lý Thanh Hà)
Reuters: Các gia đình giàu nhất thế giới đang từ bỏ đồng đô la
Một nửa các văn phòng gia đình, quản lý tài sản của các gia đình giàu có, cho rằng khoản đầu tư của họ bằng đồng đô la là quá mức, theo báo cáo của UBS Group AG, mà Reuters đã trích dẫn.
Khoảng hai phần ba các tổ chức như vậy dự kiến đồng đô la Mỹ sẽ tiếp tục suy yếu trong năm tới. Trong bối cảnh này, họ dự định tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cổ phiếu của các thị trường mới nổi ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và bất động sản ở Tây Âu.
Sự thay đổi chiến lược phản ánh sự thận trọng ngày càng tăng của các nhà đầu tư tư nhân lớn đối với đồng đô la và mong muốn đa dạng hóa tài sản trong bối cảnh kỳ vọng về sự sụt giảm tiếp tục của đồng tiền này.
Các giai đoạn tăng trưởng của mô hình kinh tế phương Tây:
- 1950-70: Tăng trưởng thực - công nghiệp, hạ tầng, tầng lớp trung lưu
- 1980-90: Tăng trưởng bằng tự do hóa tài chính - còn tạo ra của cải thực
- 2000-10: Tăng trưởng bằng nợ - vay từ tương lai
- 2010-20: Tăng trưởng bằng in tiền tạo ra ảo giác của cải từ không khí bằng cách nới lỏng định lượng và lãi suất = 0 -> doanh nghiệp không có lãi thật tức không tạo ra của cải tích lũy (khác với của cải tiêu thụ hết) nhưng vẫn sống được.
- 2020+: Không còn công cụ, hộp công cụ đã được dùng hết - lạm phát chặn in tiền, nợ chặn vay thêm. Và xung đột quốc tế (chi tiêu quân sự) là công cụ tài khóa cuối cùng mà chính trị còn chấp nhận được để bơm tiền vào kinh tế mà không bị gọi là "xã hội chủ nghĩa". Dĩ nhiên, tăng trưởng chậm dần cho tới khi gặp đại khủng hoảng tài chính, đưa tới đâu chưa có câu trả lời.
Trong khi đó, TQ vẫn tăng trưởng vì những của cải thực tích lũy được vẫn còn chưa được tạo ra:
- Hàng trăm triệu người còn chưa được đô thị hóa hoàn toàn
- Hạ tầng nội địa còn thiếu ở miền Tây và miền Trung
- Công nghệ còn đang bắt kịp (và vượt ở nhiều lĩnh vực)
- Tiêu dùng nội địa còn chưa phát huy hết
Đây là tăng trưởng tạo ra của cải thực - không phải tăng trưởng tài chính ảo. Còn phương Tây, có thể nói nôm na, đã hết nấc!
Phạm Chân Dũng
Các giai đoạn tăng trưởng của mô hình kinh tế phương Tây:
- 1950-70: Tăng trưởng thực - công nghiệp, hạ tầng, tầng lớp trung lưu
- 1980-90: Tăng trưởng bằng tự do hóa tài chính - còn tạo ra của cải thực
- 2000-10: Tăng trưởng bằng nợ - vay từ tương lai
- 2010-20: Tăng trưởng bằng in tiền tạo ra ảo giác của cải từ không khí bằng cách nới lỏng định lượng và lãi suất = 0 -> doanh nghiệp không có lãi thật tức không tạo ra của cải tích lũy (khác với của cải tiêu thụ hết) nhưng vẫn sống được.
- 2020+: Không còn công cụ, hộp công cụ đã được dùng hết - lạm phát chặn in tiền, nợ chặn vay thêm. Và xung đột quốc tế (chi tiêu quân sự) là công cụ tài khóa cuối cùng mà chính trị còn chấp nhận được để bơm tiền vào kinh tế mà không bị gọi là "xã hội chủ nghĩa". Dĩ nhiên, tăng trưởng chậm dần cho tới khi gặp đại khủng hoảng tài chính, đưa tới đâu chưa có câu trả lời.
Trong khi đó, TQ vẫn tăng trưởng vì những của cải thực tích lũy được vẫn còn chưa được tạo ra:
- Hàng trăm triệu người còn chưa được đô thị hóa hoàn toàn
- Hạ tầng nội địa còn thiếu ở miền Tây và miền Trung
- Công nghệ còn đang bắt kịp (và vượt ở nhiều lĩnh vực)
- Tiêu dùng nội địa còn chưa phát huy hết
Đây là tăng trưởng tạo ra của cải thực - không phải tăng trưởng tài chính ảo. Còn phương Tây, có thể nói nôm na, đã hết nấc!
Phạm Chân Dũng
Đánh giá một chút bài trên
Khoảng năm 1980-1990, bác Dũng viết "tự do hóa tài chính vẫn còn tạo ra của cải thực" là đúng nhưng chưa đủ.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng liên hệ giữa hội nhập tài chính và tăng trưởng không hề chắc chắn, trong khi mức độ bất ổn tài chính lại tăng lên; đây cũng là thời kỳ hình thành nhiều mất cân đối dẫn đến khủng hoảng nợ, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiền tệ về sau.
Ngoài ra, tăng trưởng của phương Tây thời đó không chỉ nhờ tài chính hóa mà còn nhờ CNTT, Internet, mạng,... dẫn đến tăng năng suất, toàn cầu hóa sản xuất, thương mại, và cải tiến năng suất.
Khoảng năm 2000-2010: "tăng trưởng bằng nợ, vay từ tương lai"
Điều này đúng khá mạnh đối với không ít nước, nhưng không đồng đều cho toàn bộ phương Tây. Ở Mỹ, Tây Ban Nha, Ireland, Anh… giai đoạn trước 2008 đúng là có sự bùng nổ của tín dụng tư nhân, bất động sản và đòn bẩy tài chính; cú sập 2008 cho thấy phần tăng trưởng đó chứa nhiều yếu tố "vay trước tương lai" như bác Dũng nói.
Tuy nhiên, một số nền kinh tế châu Âu như Đức dựa nhiều hơn vào xuất khẩu, năng lực công nghiệp và kỷ luật chi phí hơn là bong bóng tín dụng nội địa.
Từ 2000 trở đi, nhận xét nợ hóa cũng có cơ sở. Ví dụ dữ liệu FRED/World Bank cho OECD cho thấy nợ trung ương/GDP của nhóm OECD khoảng 51% năm 2000, tăng lên 90% năm 2010, rồi lên khoảng 126% năm 2020 trước khi giảm còn khoảng 112% năm 2022. Đây chưa tính đầy đủ nợ tư nhân, nợ bất động sản, nợ doanh nghiệp và các cam kết phúc lợi tương lai.
Khoảng năm 2010-2020: "in tiền tạo ảo giác của cải; doanh nghiệp không lãi thật vẫn sống được"
Đúng là sau 2008, rồi đặc biệt trong giai đoạn lãi suất gần 0 và QE, các NHTW lớn đã nới lỏng tiền tệ ở quy mô chưa từng có. Các biện pháp này hỗ trợ giá tài sản, giảm chi phí vốn và giữ hệ thống tài chính không sụp.
Cũng đúng là có bằng chứng cho thấy môi trường lãi suất thấp kéo dài có liên hệ với sự gia tăng của các zombie firms, và các doanh nghiệp loại này có thể làm giảm năng suất, đầu tư và tái phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. BIS và OECD đều có nghiên cứu khá rõ về điểm này.
QE và lãi suất thấp làm giá tài sản tăng: cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản. Khi giá tài sản tăng nhanh hơn năng suất, người nắm tài sản cảm thấy giàu hơn, nhưng đó có thể là hiệu ứng định giá, không phải sản xuất thêm hàng hóa, nhà máy, công nghệ hay năng lực lao động.
Tuy vậy, IMF và Fed đều nhấn mạnh QE có thể nâng sản lượng và lạm phát trong suy thoái sâu, tức là nó không phải hoàn toàn ảo, mà là công cụ ổn định vĩ mô có tác dụng thật, dù có tác dụng phụ và hiệu quả giảm dần theo thời gian.
Ngoài ra, đúng là phần ảo rất nhiều, nhưng cũng có phần thật. Ví dụ trong giai đoạn 2010-2020 này, Mỹ vẫn tạo ra giá trị thật trong phần mềm, bán dẫn thiết kế, cloud, AI, dược phẩm, hàng không, năng lượng, logistics, nông nghiệp công nghệ cao. Châu Âu vẫn có công nghiệp máy móc, hóa chất, dược, thiết bị y tế, hàng không, luxury, năng lượng tái tạo, quốc phòng.
Dù tăng trưởng chậm, và tỷ lệ ít, nhưng cũng đến nối 100% đều là ảo. Mặc dù phần biên của nền kinh tế bị méo: vốn rẻ làm doanh nghiệp yếu sống lâu hơn, thị trường bất động sản và tài sản tài chính phình to, còn năng suất toàn nền kinh tế tăng chậm.
Dù thế nào thì giai đoạn này cũng là suy giảm năng suất. IMF ghi nhận tăng trưởng năng suất toàn cầu, đặc biệt ở các nền kinh tế phát triển, giảm mạnh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và vốn đã chậm lại trước đó
Giai đoạn 2020+: "hộp công cụ đã hết; chiến tranh là công cụ tài khóa cuối cùng"
Không rõ hộp công cụ đây là gì? Nếu đó là hộp công cụ tài chính thì vẫn còn, ví dụ như vẫn còn tái phân bổ chi tiêu, cải cách cơ cấu, đầu tư công có mục tiêu, chính sách công nghiệp, năng lượng, hạ tầng số, giáo dục, cạnh tranh, điều tiết tài chính, v.v.
Tuy nhiên, cái đúng ở đây đó là những công cụ rẻ và dễ dùng nhất đã kém hiệu quả hơn trước, mỗi công cụ đều có giá chính trị và tài chính cao hơn trước, những công cụ hiệu dụng ngày càng ít, dù có lẽ chưa đến mức hết sạch công cụ
Vì lạm phát 2021-2022, các ngân hàng trung ương không thể tiếp tục lãi suất 0 và QE như cũ, ECB bắt đầu chu kỳ thắt chặt từ cuối 2021/2022, còn Fed cũng chuyển sang thu hẹp bảng cân đối từ 2022.
Nhìn chung những gì bài viết này ý tưởng chung là đúng, nhưng có phần cường điệu hóa hơn trước, nhưng xu hướng của kinh tế phương Tây thì đúng.
HSBC RƠI VÀO TÂM BÃO RỬA TIỀN XUYÊN BIÊN GIỚI
Ngày 4/6/2026, Paris phát đi một tín hiệu mà giới tài chính toàn cầu không thể làm ngơ.
Cơ quan công tố tài chính quốc gia Pháp (Parquet National Financier - PNF), lực lượng chuyên trách điều tra các tội phạm tài chính tinh nhuệ nhất của nước này, đã chính thức đặt Ngân hàng Tư nhân HSBC (Thụy Sĩ) vào diện bị điều tra hình sự với đầy đủ tư cách pháp lý.
Đây là bước đi mới nhất trong một vụ án đã kéo dài âm ỉ nhiều năm: hồ sơ liên quan đến Riad Salameh, cựu Thống đốc Ngân hàng Trung ương Lebanon - người từng được tạp chí Euromoney vinh danh là “Thống đốc ngân hàng trung ương xuất sắc nhất thế giới” trước khi trở thành tâm điểm của một trong những cuộc điều tra rửa tiền lớn nhất lịch sử ngân hàng châu Âu.
Các cáo buộc không hề nhẹ: rửa tiền có tổ chức và cấu kết phạm tội nhằm phục vụ các hành vi như biển thủ công quỹ, lạm dụng tín nhiệm và hối lộ công chức. Đi kèm là khoản tiền bảo đảm 80 triệu euro mà phía ngân hàng phải nộp, một dấu hiệu cho thấy vụ việc đã vượt xa phạm vi xử lý nội bộ thông thường.
Đây cũng là lần đầu tiên một ngân hàng từng đứng đầu châu Âu về tổng tài sản, đồng thời được xếp vào nhóm định chế tài chính có tầm quan trọng hệ thống toàn cầu cấp độ 3 theo phân loại của Hội đồng Ổn định Tài chính (FBS), phải đối diện với tòa án hình sự của một nước G7 trong tư cách bị điều tra ở một vụ án gắn trực tiếp với khái niệm “tổ chức tội phạm”.
💰 DÒNG CHẢY 300 TRIỆU USD XUYÊN BIÊN GIỚI
Để hiểu vì sao Paris lần theo dấu vết đến Geneva, cần quay lại điểm khởi đầu: hợp đồng ngày 6/4/2002 giữa Ngân hàng Trung ương Lebanon (Banque du Liban - BDL) và Forry Associates Ltd, một công ty đăng ký tại Quần đảo Virgin thuộc Anh.
Trên giấy tờ, Forry nhận phí môi giới từ các giao dịch bán trái phiếu kho bạc và trái phiếu quốc tế của Lebanon - một cấu trúc tưởng như hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, theo điều tra, người hưởng lợi thực sự của Forry là Raja Salameh, em trai của Thống đốc Riad.
Trong giai đoạn 2002-2015, hơn 300 triệu USD (ước tính khoảng 326 triệu USD theo hồ sơ phía Thụy Sĩ) đã lưu chuyển theo cơ chế này.
Tiền đi từ Ngân hàng Trung ương Lebanon vào tài khoản của Forry tại HSBC Geneva, rồi tiếp tục được phân tán: một phần chuyển sang tài khoản cá nhân của Raja Salameh, một phần quay lại Lebanon dưới vỏ bọc các giao dịch thương mại, và phần còn lại tiếp tục luân chuyển qua các thực thể ở nước ngoài với cấu trúc sở hữu phức tạp.
Theo lập luận của phía công tố Pháp, dòng tiền này cuối cùng được sử dụng để mua bất động sản tại nhiều quốc gia châu Âu và Vương quốc Anh.
Karim Souaid, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Lebanon hiện tại, người đã hai lần ra làm việc tại Paris trong năm 2026 với tư cách bên dân sự, gọi Forry là “một thực thể ký sinh được tạo ra để bào mòn ngân hàng trung ương” - một cách diễn đạt thẳng thắn, không mang tính ngoại giao.
Trong khi đó, Riad Salameh bác bỏ toàn bộ cáo buộc, khẳng định không có khoản tiền công nào bị chuyển thành hoa hồng và cho rằng các cáo buộc về dòng tiền là bịa đặt.
Raja Salameh cũng giữ lập trường rằng Forry là tài sản riêng của ông và nguồn tiền là lợi nhuận đầu tư hợp pháp. Hai anh em duy trì quan điểm này xuyên suốt các cuộc thẩm vấn tại Beirut, Paris và Geneva.
🏦 MỘT THẬP KỶ CẢNH BÁO BỊ BỎ QUA
Điều khiến công tố Pháp đặc biệt chú ý không chỉ là dòng tiền, mà là cách HSBC xử lý các dấu hiệu rủi ro trong nội bộ suốt hơn 10 năm.
Theo tài liệu do tổ chức điều tra độc lập Public Eye công bố đầu năm 2025, bộ phận tuân thủ của HSBC tại Geneva đã đưa ra gần 20 cảnh báo liên quan tài khoản Forry trong giai đoạn 2006-2013.
Các cảnh báo xoay quanh dòng tiền vào đều đặn và việc chuyển tiền sang những pháp nhân thiếu minh bạch. Tuy nhiên, phần lớn các cảnh báo này bị bỏ qua hoặc làm nhẹ đi bởi chính người phụ trách quan hệ khách hàng - người có lợi ích trực tiếp trong việc duy trì mối quan hệ.
Phải đến mùa xuân 2016, HSBC mới chấm dứt quan hệ với Forry, tức sau 14 năm kể từ khi tài khoản được mở. Nhưng ngay cả khi đó, ngân hàng cũng không nộp báo cáo giao dịch đáng ngờ.
Chỉ đến tháng 9/2020, dưới sức ép ngày càng lớn, HSBC mới báo cáo cho cơ quan chống rửa tiền Thụy Sĩ - tức chậm 4 năm sau khi tài khoản đã bị đóng.
Cơ quan giám sát tài chính Thụy Sĩ mở điều tra từ cuối năm 2021 và công bố kết luận vào ngày 18/6/2024: Ngân hàng Tư nhân HSBC (Thụy Sĩ) đã vi phạm nghiêm trọng các quy định chống rửa tiền, không làm rõ nguồn gốc và mục đích của hơn 300 triệu USD giao dịch, cũng như không giải thích được việc tài khoản trung chuyển bị sử dụng theo cách bất thường.
Dù không đưa ra kết luận hình sự, báo cáo này trở thành chứng cứ quan trọng cho công tố Pháp, vì nó xác nhận một cách chính thức rằng các sai sót kiểm soát tại HSBC không phải ngẫu nhiên mà mang tính hệ thống.
Từ đó, lập luận của phía công tố chuyển từ nghi vấn sang cấu trúc: đây không còn là lỗi quy trình, mà là chuỗi dấu hiệu bất thường bị làm ngơ có chủ đích trong thời gian dài.
⚖️ LỘ TRÌNH PHÁP LÝ TỪ BEIRUT TỚI PARIS
Diễn biến pháp lý bắt đầu tại Thụy Sĩ vào tháng 10/2020 khi cơ quan công tố nước này mở điều tra đối với hai anh em Salameh.
Tháng 1/2021, yêu cầu hỗ trợ tư pháp được gửi tới Lebanon. Chỉ ba tháng sau, văn phòng của Raja Salameh tại Beirut bị niêm phong và hồ sơ bị thu giữ.
Cùng thời điểm, các tổ chức pháp lý quốc tế nộp đơn kiện tại Pháp, kéo Paris vào cuộc.
Đến tháng 7/2021, công tố tài chính Pháp mở cuộc điều tra riêng - nền tảng dẫn tới việc HSBC bị đưa vào diện điều tra hình sự sau này.
Năm 2023 đánh dấu giai đoạn thẩm vấn trực tiếp: Riad Salameh trả lời hàng chục câu hỏi của điều tra viên châu Âu tại Beirut. Khi ông không có mặt tại Paris theo yêu cầu vào tháng 5/2023, lệnh bắt quốc tế được phát ra.
Đến năm 2024, tình hình pháp lý của ông suy yếu rõ rệt: bị bắt tại Beirut trong một vụ án khác và Raja Salameh cũng chính thức bị điều tra tại Pháp với loạt cáo buộc nghiêm trọng.
🌐 “HỢP TÁC” NHƯNG KHÔNG TRẢ LỜI
Phản ứng của HSBC vào ngày 4/6/2026 gọn và nhất quán: không bình luận về vụ việc đang điều tra, nhưng tiếp tục hợp tác với cơ quan chức năng. Không có phản bác nội dung.
Trong các báo cáo trước đó, ngân hàng cũng thừa nhận đang bị điều tra liên quan tới các mối quan hệ trong quá khứ, đồng thời cho biết chưa thể đánh giá đầy đủ tác động.
Điểm đáng chú ý là vụ việc không chỉ dừng ở cấp tổ chức.
Tại Luxembourg và Thụy Sĩ, một số cá nhân liên quan trực tiếp đã bị cáo buộc hoặc truy tố. Điều này cho thấy trách nhiệm không còn mang tính trừu tượng.
🎭 BÍ MẬT NGÂN HÀNG GẶP TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
Vụ HSBC trở thành phép thử nặng nề cho mô hình ngân hàng tư nhân Thụy Sĩ - vốn lâu nay dựa trên nguyên tắc bảo mật khách hàng. Sau hàng loạt bê bối, ranh giới giữa bảo mật tài chính và đồng lõa với dòng tiền bất minh đang bị xem xét lại.
Dù quy mô của Ngân hàng Tư nhân HSBC (Thụy Sĩ) chỉ chiếm một phần nhỏ trong tập đoàn, nhưng do tập đoàn mẹ có vai trò toàn cầu, nên bất kỳ vấn đề nào cũng có thể tạo hiệu ứng lan rộng.
Cần nhấn mạnh rằng việc bị điều tra chưa đồng nghĩa với có tội. Pháp vẫn phải chứng minh nhiều yếu tố phức tạp, từ bản chất hợp đồng Forry đến mức độ nhận thức của HSBC.
Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn nằm ở câu hỏi nền tảng: nếu trong hơn hai thập kỷ, với nhiều cảnh báo nội bộ và kết luận chính thức từ cơ quan giám sát, một ngân hàng lớn vẫn để dòng tiền hàng trăm triệu USD đi qua mà không bị kiểm tra đầy đủ, thì hệ thống đó thực chất đang bảo vệ điều gì và phục vụ lợi ích của ai?
*Nguồn: Reuters, AFP, FINMA, Public Eyes, PNF, L’Orient-Le Jour, HSBC
@a98 @hatam @ktqsminh @ngo-rung @elevonic
Nhìn vào cách mô tả máy bay tương lai F‑47 của Mỹ, có vẻ triết lý mà Mỹ định làm với nó giống với cái Nga đang làm cho Su-57, đó là máy bay có người lái (Su-57 và F-47 tương lai) đóng vai trò chỉ huy một nhóm các UAV thực hiện các nhiệm vụ tác chiến, trinh sát khác nhau.
🇪🇺 HẬU FCAS (The Future Combat Air System): CHÂU ÂU PHÂN RÃ, MỸ ĐI TRƯỚC
Ngay trước thềm triển lãm ILA Berlin, chương trình FCAS đã mất đi thành phần quan trọng nhất: New Generation Fighter - chiếc tiêm kích có người lái được định hình để trở thành trụ cột của không quân Pháp, Đức và Tây Ban Nha sau năm 2040.
Những cấu phần còn lại như combat cloud và hệ thống máy bay không người lái hộ tống vẫn tồn tại trên giấy.
Châu Âu vì vậy không quay về điểm xuất phát. Họ bước vào một trạng thái nguy hiểm hơn: sở hữu “hệ thần kinh”, nhưng không còn một “cơ thể” chung để vận hành.
Nhưng đây không phải câu chuyện về một dự án thất bại. Đây là vấn đề của kiến trúc chiến tranh.
Khi chiếc tiêm kích chung bị loại khỏi kế hoạch, vấn đề không dừng lại ở việc mất một dự án. Nó để lại một khoảng trống buộc các bên phải tự tìm hướng đi riêng.
Đức có thể dựa vào F-35 để lấp thời gian, một số nước cân nhắc bước vào chương trình Global Combat Air Programme (GCAP), Airbus và các đối tác phản ứng bằng Team Gen 6 để giữ vị thế, trong khi phía Mỹ đã đi trước một bước với F-47 như một hình mẫu cho giai đoạn tiếp theo.
Từ đây, các chương trình của châu Âu không còn phát triển trong một trục chung, mà phải tự định vị mình giữa nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
🇩🇪 BERLIN ĐỔI TRỤC
Sau FCAS, mọi đường đi thực tế đều đi qua Berlin.
Bộ trưởng Quốc phòng Boris Pistorius đã đặt lên bàn ba lựa chọn: mua thêm F-35, tham gia một chương trình quốc tế đang tồn tại, hoặc dẫn dắt một chương trình mới cùng Airbus và các đối tác.
Điểm quan trọng không nằm ở bản thân danh sách, mà ở chỗ Berlin đã chuẩn bị cho những kịch bản này từ nhiều tháng trước khi FCAS chính thức sụp đổ.
Điều đó thay đổi cách nhìn toàn bộ câu chuyện. Đức không phản ứng sau một cú sốc, mà đang triển khai một điều đã được tính toán.
Khoảng cách giữa nhu cầu về một tiêm kích thế hệ 6 và việc lựa chọn đối tác đang mở rộng nhanh chóng, tạo ra một không gian chiến lược linh hoạt hơn nhưng cũng khó kiểm soát hơn.
Trong bối cảnh đó, F-35 nổi lên như giải pháp trước mắt. Nhưng giá trị thực của nó không nằm ở chiếc máy bay, mà ở toàn bộ hệ sinh thái đi kèm: đào tạo, hậu cần, bảo dưỡng, tích hợp vũ khí và khả năng tương thích với NATO.
Càng nhiều quốc gia châu Âu gắn vào hệ sinh thái này, không gian cho một giải pháp nội khối càng bị thu hẹp.
F-35 về bản chất là công cụ “trì hoãn thời gian”. Và chính khoảng thời gian đó giúp Berlin không còn bị ép phải vội vàng dấn thân vào một mô hình hợp tác thiếu chắc chắn.
Tuy nhiên, thời gian cũng có thể trở thành cái bẫy: khi trì hoãn kéo dài, nhu cầu về một giải pháp riêng dần bị bào mòn.
Song song, Team Gen 6 xuất hiện gần như ngay lập tức sau cú sập của NGF.
Liên minh công nghiệp giữa Đức và Tây Ban Nha này chưa phải một chương trình tiêm kích hoàn chỉnh - nó thiếu ngân sách, thiếu phê duyệt và có thể còn thiếu đối tác.
Nhưng sự tồn tại của nó cho thấy một điều rõ ràng: Berlin và Madrid không chấp nhận rời khỏi cuộc đua thế hệ 6.
Trước khi bàn cờ chính trị được thiết lập lại, họ muốn chắc chắn rằng mình vẫn còn vị trí trên bàn.
Sự xuất hiện của GCAP và vai trò ngày càng rõ của Saab (Thụy Điển) càng làm bức tranh phức tạp hơn.
Châu Âu đang rời xa mô hình hội nhập công nghiệp kiểu FCAS, chuyển sang các liên minh linh hoạt - nơi đối tác được lựa chọn theo năng lực và lợi ích.
Cách tiếp cận này hiệu quả hơn trong ngắn hạn, nhưng lại khiến khả năng xây dựng một câu trả lời thống nhất cho toàn lục địa trở nên mong manh hơn.
🇫🇷 MỖI NƯỚC MỘT HƯỚNG
Tây Ban Nha là bên thay đổi rõ rệt nhất sau FCAS.
Từ một đối tác bị lu mờ, Madrid nhanh chóng chuyển sang thế chủ động: gọi cú sập là thất bại chính sách, đồng thời kích hoạt các phương án dự phòng với Airbus và Indra.
Trong cấu trúc mới, họ có cơ hội trở thành một “người xoay trục” - đứng giữa các hướng đi và góp phần định hình liên minh tiếp theo.
Trong khi đó, Pháp lại đi theo một hướng khác.
Paris chưa đưa ra một chương trình thay thế tương đương, nhưng lại giữ vững một điều: quyền kiểm soát công nghiệp.
Hướng đi được nhiều chuyên gia nhắc đến là Rafale F5 kết hợp với các nền tảng không người lái tàng hình - một cách để kéo dài năng lực mà không phụ thuộc vào đối tác.
Nếu Đức mua thời gian bằng liên minh và các nền tảng có sẵn, thì Pháp đang mua thời gian bằng chính năng lực nội tại.
Điều này giúp họ giữ quyền kiểm soát, nhưng cũng đặt ra một rủi ro: thiếu quy mô hợp tác và thiếu sức hút đủ lớn để kéo toàn bộ châu Âu đi cùng.
Sau FCAS, Pháp vẫn giữ được toàn bộ quyền kiểm soát công nghiệp của mình. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ khác: liệu quyền kiểm soát đó có đủ sức kéo các nước khác đi cùng, hay chỉ dừng lại ở một con đường riêng không ai theo.
Nếu không biến được nó thành một điểm hội tụ, Paris có thể sở hữu đầy đủ năng lực nhưng lại đứng ngoài phần còn lại của châu Âu.
🦅 MỸ ĐÃ CHẠY TRƯỚC
Trong khi châu Âu còn đang tái cấu trúc, Mỹ đã ở một vị trí thuận lợi hơn nhiều.
F-35 đã trở thành một lực hấp dẫn hiện hữu, ăn sâu vào cấu trúc tác chiến của NATO.
Còn F-47, thuộc chương trình Next Generation Air Dominance (NGAD), đang dần trở thành chuẩn tham chiếu cho tương lai, dù mới chỉ lộ diện một phần.
Những gì lộ ra về F‑47 đủ để thấy nó không đi theo logic của các tiêm kịch trước đây. Không quân Mỹ đang đẩy bán kính chiến đấu lên mức trên 1.000 hải lý (gần gấp đôi F-22), trong khi vẫn giữ tốc độ trên Mach 2.
Nghĩa là trọng tâm không còn chỉ là cơ động hay không chiến thuần túy, mà là khả năng đi sâu, ở lại lâu hơn trong môi trường phòng không dày đặc mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiếp dầu.
Quan trọng hơn nằm ở cách nó được triển khai. F‑47 không được thiết kế để “tự đánh”, mà để vận hành như một nút trung tâm, đi cùng một cụm hơn 1.000 hệ thống không người lái hỗ trợ.
Quy mô đó cho thấy Mỹ đang chuyển từ mô hình một chiếc tiêm kích làm tất cả sang một cấu trúc phân tán, nơi máy bay có người lái giữ vai trò điều phối, còn khối lượng nhiệm vụ được dàn ra cho các phương tiện xung quanh.
Nhìn theo hướng đó, F‑47 không chỉ là một nền tảng mới, mà là một cách tiếp cận khác: mở rộng tầm tác chiến, giảm phụ thuộc vào hạ tầng hỗ trợ, và chuyển sức mạnh từ bản thân chiếc máy bay sang toàn bộ hệ sinh thái nó kiểm soát.
Điều quan trọng là: châu Âu không cần phải mua F-47 để bị nó ảnh hưởng. Chỉ cần nó tồn tại, mọi chương trình khác đều buộc phải so với nó.
Trong cạnh tranh quân sự hiện đại, một hệ thống vũ khí không chỉ là sản phẩm kỹ thuật; nó còn là một ý tưởng định hình cách các bên khác suy nghĩ.
Và trong khi các nước châu Âu còn đang phân tán giữa nhiều hướng đi, Mỹ đồng thời nắm cả hai trục: một năng lực hiện hữu và một chuẩn mực tương lai.
🎯 GÓC NHÌN MỘT BỨC TRANH PHÂN TÁN
FCAS kết thúc như một cuộc ly hôn công nghiệp. Nhưng di sản thực sự của nó không nằm ở những rạn nứt giữa Dassault và Airbus.
Nó nằm ở một vấn đề sâu hơn: châu Âu đã đánh mất khả năng hội tụ nhanh quanh một câu trả lời chung.
Một lục địa có nhiều lựa chọn có thể linh hoạt hơn. Nhưng trong chiến tranh hiện đại, tốc độ hội tụ đôi khi còn quan trọng hơn số lượng lựa chọn. Khi một bên đang sở hữu cả hiện tại lẫn tương lai, còn bên kia vẫn đang tranh luận về hướng đi, cán cân sẽ không đứng yên.
FCAS kết thúc như một dự án thất bại. Nhưng tác động của nó không nằm ở những gì đã sụp đổ, mà ở những rạn nứt phía sau.
Thay vì một hệ thống chung, châu Âu giờ đứng giữa nhiều cấu trúc cạnh tranh lẫn nhau. Trong khi đó, Mỹ không đứng trong cuộc tranh luận mà đã bước sang giai đoạn triển khai.
Phần còn lại không phải nằm ở bản thiết kế nữa. Nó nằm ở tốc độ.
Và ai dựng được một cấu trúc hoàn chỉnh trước, người đó định hình cuộc chơi.
*Nguồn: Reuters, Politico, Financial Times, Defense News, The War Zone, Aviation Week
(Tin Hay Thế Giới)
Những đám mây đen phủ bóng nền kinh tế đầu tàu châu Âu
13 Tháng 6, 2026
Bài viết “Nền kinh tế Đức đang trôi dạt” của nhà báo Klaus Fischer, đăng trên Thế Giới Trẻ (Đức) ngày 13/6/2026, phác họa bức tranh ảm đạm của nền kinh tế lớn nhất châu Âu khi cùng lúc đối mặt nhiều sức ép: lạm phát kéo dài, số doanh nghiệp phá sản gia tăng, tăng trưởng suy yếu và nguy cơ mất việc làm lan rộng trong ngành thép. Những dấu hiệu này cho thấy nước Đức đang trải qua giai đoạn khó khăn với nhiều thách thức kinh tế – xã hội đan xen.
Bundesbank vừa gia nhập danh sách ngày càng dài các tổ chức bi quan về triển vọng kinh tế Đức. Ngân hàng Trung ương Đức ngày 13/6 hạ dự báo tăng trưởng GDP xuống còn 0,5% trong năm nay và 0,8% vào năm 2027, sau khi nhiều viện nghiên cứu, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới cũng liên tiếp điều chỉnh giảm dự báo đối với nền kinh tế lớn nhất châu Âu.
Theo đánh giá của Bundesbank, những bất ổn địa chính trị tại Trung Đông là một trong những nguyên nhân chính khiến đà phục hồi của kinh tế Đức suy yếu. Nguy cơ gián đoạn nguồn cung và giá dầu, khí đốt cùng các nguyên liệu hóa dầu tăng cao có thể tạo thêm áp lực lên doanh nghiệp và người tiêu dùng. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần trong bức tranh nhiều gam màu xám mà kinh tế Đức đang đối mặt.
Bên cạnh đó, các cuộc xung đột thương mại, đặc biệt là chính sách thuế quan của Mỹ, tiếp tục phủ bóng lên triển vọng tăng trưởng toàn cầu. Theo tác giả Klaus Fischer, những biến động địa chính trị và năng lượng trong thời gian qua đã góp phần làm thay đổi cán cân trên thị trường dầu mỏ thế giới, đồng thời tạo thêm thách thức cho các nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu và năng lượng nhập khẩu như Đức.
Bên cạnh các yếu tố bên ngoài, tác giả cho rằng những vấn đề chính trị và kinh tế nội tại cũng đang làm gia tăng áp lực đối với nền kinh tế Đức. Chi tiêu quốc phòng tăng mạnh, các lệnh trừng phạt nhằm vào Nga cùng những khoản hỗ trợ tài chính quy mô lớn dành cho Ukraine được cho là đã tạo thêm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Trong bối cảnh đó, nợ công tiếp tục gia tăng, kéo theo chi phí trả lãi ngày càng lớn và làm dấy lên lo ngại về khả năng duy trì các chương trình an sinh xã hội trong dài hạn.
Chính sách tiền tệ cũng đang đặt ra những thách thức mới. Theo tác giả, việc lãi suất duy trì ở mức cao khiến chi phí vốn tăng lên, làm giảm động lực đầu tư của doanh nghiệp và gia tăng áp lực đối với tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với lợi nhuận sụt giảm, thậm chí thua lỗ, khiến dòng vốn đầu tư thu hẹp và nguy cơ mất việc làm ngày càng hiện hữu.
Những khó khăn này được phản ánh qua số liệu phá sản doanh nghiệp. Theo Văn phòng Thống kê Liên bang Đức, số vụ phá sản trong quý I tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước, cho thấy môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều bất ổn. Nhiều doanh nghiệp không chỉ chịu áp lực từ nhu cầu suy giảm mà còn phải đối mặt với chi phí năng lượng, lao động và vốn ngày càng cao.
Ngành thép là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng rõ nét nhất. Ngày 13/6, công đoàn IG Metall đã tổ chức các cuộc biểu tình tại Berlin và Völklingen nhằm kêu gọi Chính phủ Liên bang xây dựng một lộ trình rõ ràng cho quá trình chuyển đổi sang sản xuất thép thân thiện với môi trường, đồng thời bảo vệ việc làm và hạn chế tác động từ hàng nhập khẩu giá rẻ.
Tuy nhiên, theo tác giả, quá trình chuyển đổi sang thép “xanh” vẫn đối mặt với nhiều thách thức về công nghệ và chi phí. Việc sản xuất thép bằng hydro đòi hỏi nguồn đầu tư rất lớn, trong khi khả năng cạnh tranh của sản phẩm này trên thị trường quốc tế vẫn là dấu hỏi. Nếu không có sự phối hợp rộng rãi giữa các quốc gia sản xuất hoặc các biện pháp bảo hộ mạnh mẽ từ Liên minh châu Âu (EU), thép “xanh” có nguy cơ trở thành sản phẩm có giá thành quá cao, làm gia tăng chi phí cho nhiều ngành công nghiệp và các dự án hạ tầng trong tương lai.
Từ những diễn biến trên, tác giả nhận định kinh tế Đức đang phải đối mặt đồng thời với các thách thức về tăng trưởng, năng lượng, đầu tư và năng lực cạnh tranh công nghiệp. Đây là những bài toán khó có thể giải quyết trong ngắn hạn và tiếp tục phủ bóng lên triển vọng của nền kinh tế đầu tàu châu Âu.
(Hồ Ngọc Thắng chuyển ngữ và tóm lược)
https://tapchidongnama.vn/nhung-dam-may-den-phu-bong-nen-kinh-te-dau-tau-chau-au/
TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
« Cuộc chiến AI đã bắt đầu »: Mỹ phong tỏa mô hình mới nhất của Anthropic gây lo ngại tại Pháp và châu Âu
Công ty khởi nghiệp của Mỹ đã vô hiệu hóa mô hình AI mới nhất của mình, Mythos 5, theo yêu cầu của Washington. Một quyết định được nhìn nhận từ châu Âu như một minh chứng cho quyền lực của Mỹ đối với lĩnh vực này và ý muốn kiểm soát của chính quyền Trump.
14 tháng Sáu 2026
▌Tóm tắt
Chính chính quyền Mỹ đã can thiệp thô bạo buộc Anthropic dừng hoạt động hai mô hình AI tiên tiến là Mythos 5 và Fable 5 với lý do lo ngại rủi ro an ninh mạng và kiểm soát xuất khẩu.
Các nhà lãnh đạo chính trị tại Pháp và Ủy ban Châu Âu coi động thái này là lời cảnh tỉnh về chủ quyền, đồng thời kêu gọi giảm phụ thuộc vào các Big Tech Mỹ bằng cách tự chủ công nghệ và hạ tầng số.
Anthropic phản đối quyết định của Nhà Trắng là bất công và thiếu minh bạch, trong khi giới chuyên gia mô hình mã nguồn mở mỉa mai công ty đang phải gánh chịu hậu quả từ việc "tiếp thị nỗi sợ hãi" do chính mình tạo ra.
Phải giải thích thế nào về việc Washington phong tỏa mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất của Anthropic, một động thái chưa từng có tiền lệ? Phản ứng trước yêu cầu từ chính quyền Donald Trump với lý do rủi ro đối với an ninh quốc gia, công ty khởi nghiệp này đã thông báo vào thứ Sáu ngày 12 tháng 6 về việc vô hiệu hóa Mythos 5, mô hình nổi tiếng với khả năng phát hiện các lỗ hổng tin học, và Fable 5, phiên bản dành cho công chúng rộng rãi đã bị hạn chế về mặt an ninh mạng.
Anthropic đã giải thích trong một thông cáo rằng họ không thấy giải pháp nào khác, bởi các cơ quan thẩm quyền Mỹ đã ra lệnh cắt quyền truy cập đối với “bất kỳ công dân nước ngoài nào, bên trong hay bên ngoài nước Mỹ”, bao gồm cả “các nhân viên nước ngoài” của chính họ. Sắc lệnh viện dẫn việc “kiểm soát xuất khẩu”, nhà sản xuất trợ lý Claude cho biết thêm.
Chính quyền Trump đã biện minh cho quyết định của mình bằng việc phát hiện ra một cách thức để vượt qua một số rào cản bảo vệ được Anthropic thiết lập trong Fable 5, phiên bản dành cho công chúng rộng rãi của Mythos, vốn là mô hình chỉ có thể truy cập được bởi một mạng lưới hạn chế gồm các doanh nghiệp hạ tầng kỹ thuật số và các quốc gia.
Nhưng việc cắt giảm chưa từng có này đã gây ra những phản ứng gay gắt tại Pháp và châu Âu, nơi nó được coi là minh chứng cho quyền lực và sự kiểm soát của nước Mỹ trong lĩnh vực AI. “Cuộc chiến AI đã bắt đầu rồi”, Gabriel Attal, ứng cử viên (đảng Phục hưng - Renaissance) đã tuyên bố tranh cử bầu cử tổng thống năm 2027, nhận định. “Chúng ta không thể phụ thuộc vào kẻ khác, vì điều đó khiến chúng ta dễ bị tổn thương. Quyết định của nước Mỹ đã cho thấy điều đó. Anthropic là eo biển Hormuz của họ”, ông nói thêm, liên hệ với việc Iran phong tỏa tuyến đường hàng hải quan trọng này đối với thương mại dầu mỏ toàn cầu.
▌Một câu hỏi về chủ quyền
“Quyết định đột ngột này đến để nhắc nhở chúng ta rằng trí tuệ nhân tạo đã là một vấn đề chủ quyền quốc gia lớn”, Chủ tịch đảng Tập hợp Quốc gia Jordan Bardella nhận định trên X, đồng thời kêu gọi “tăng tốc hỗ trợ” cho công ty khởi nghiệp AI của Pháp là Mistral AI và “toàn bộ hệ sinh thái AI”.
Jean-Luc Mélenchon, ứng cử viên tổng thống của đảng Nước Pháp Bất khuất (LFI), cho rằng quyết định của Mỹ “chứng minh sự cấp bách của việc phải độc lập và có chủ quyền”, đồng thời gọi đó là một cuộc “thanh trừng chính trị” giữa chính phủ Mỹ và Anthropic, bên vốn đã từng phản đối nhau về việc sử dụng AI của hãng này cho các mục đích quân sự. Trong một thông cáo, LFI ngoài ra cũng kêu gọi “huy động nguồn tiết kiệm quốc gia” cho “các hạ tầng kỹ thuật số chiến lược”, và “mở các cuộc đàm phán tại LHQ [Tổ chức Liên Hợp Quốc]” để quản lý AI.
“Chúng ta không làm chủ các mô hình lẫn [năng lực] tính toán” của AI, một công nghệ tuy vậy lại “thiết yếu như điện hay Internet”, Edouard Philippe, ứng cử viên (đảng Chân trời - Horizons) vào Điện Élysée phản ứng. Châu Âu phải “tỉnh giấc” và ưu tiên các giải pháp công nghệ châu Âu nhưng cũng phải đơn giản hóa “các quy chuẩn đang mang lại lợi thế cho các Big Tech Mỹ”, cựu thủ tướng nhận định.
Ứng cử viên của đảng Những người Cộng hòa cho chức vụ tối cao, Bruno Retailleau, cũng muốn “định hướng lại mua sắm công sang các giải pháp có chủ quyền” – một biện pháp cũng đã được người đứng đầu nhà nước, Emmanuel Macron, bảo vệ từ lâu. Cần phải “làm với AI những gì chúng ta đã làm với hạt nhân (...): tư duy [công nghệ này] như một phần chủ quyền của chúng ta”, cựu bộ trưởng nội vụ lập luận, đồng thời nhân cơ hội này mời nhà đồng sáng lập Anthropic là Dario Amodei đến định cư tại Pháp: “Các bạn được chào đón ở Paris”, ông nói.
“Chúng ta đã bước vào một thế giới mới, (...), nơi trước hết chúng ta chỉ có thể tự dựa vào chính mình”, Bí thư thứ nhất Đảng Xã hội Olivier Faure bình luận, kêu gọi “xây dựng một cường quốc châu Âu thực sự”.
Việc phong tỏa do Washington ra lệnh càng làm tăng thêm “nhu cầu về chủ quyền công nghệ của châu Âu”, Thomas Regnier, phát ngôn viên của Ủy ban Châu Âu, nhận định về phần mình.
Quyết định của Nhà Trắng được nhìn nhận ở châu Âu như một sự hiện thực hóa các mối lo ngại về việc thấy nước Mỹ cắt quyền truy cập vào các dịch vụ kỹ thuật số lớn, sử dụng các gã khổng lồ công nghệ và AI như những đòn bẩy áp lực địa chính trị. Donald Trump đã nhiều lần đe dọa Liên minh Châu Âu về các biện pháp trả đũa nếu Ủy ban trừng phạt các doanh nghiệp Mỹ. Cuối tháng 8 năm 2025, ông đã đề cập trên X ý tưởng về “các hạn chế xuất khẩu đối với [các] công nghệ và chip điện tử [Mỹ] được bảo hộ cao”. Và Washington trước đây cũng đã hạn chế bán các chip AI tiên tiến nhất của Nvidia cho Trung Quốc.
▌Tình thế nghịch lý cho Anthropic
Sự hạn chế áp đặt lên Anthropic là một dấu hiệu bổ sung cho sự thay đổi lập trường trong chính sách của Donald Trump về AI. Từng là người ủng hộ việc bãi bỏ quy định đối với công nghệ này và được các gã khổng lồ công nghệ ủng hộ sau khi đắc cử, ban đầu ông đã hủy bỏ toàn bộ khuôn khổ được thiết lập bởi chính quyền của chính trị gia đảng Dân chủ Joe Biden, vốn quy định việc kiểm soát trước khi phát hành các mô hình. Nhưng, sau khi Mythos được tung ra vào giữa tháng 4, cho thấy sự tiến bộ rõ rệt về năng lực của AI trong lĩnh vực an ninh mạng, tổng thống Mỹ đã ký một sắc lệnh yêu cầu các doanh nghiệp trong ngành phải chuyển giao các mô hình của họ ba mươi ngày trước khi phát hành.
Tình thế cũng tỏ ra nghịch lý đối với Anthropic: doanh nghiệp này đã nhấn mạnh từ khi thành lập vào năm 2021 rằng AI có thể gây ra những nguy cơ thảm khốc tiềm ẩn, đặc biệt là trong vấn đề mất kiểm soát, tạo ra vũ khí sinh học hoặc an ninh mạng của AI. Giám đốc của hãng, Dario Amodei, cũng đã nhiều lần lên tiếng ủng hộ việc khôi phục các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với các chip và các AI tiên tiến nhất, nhằm kìm hãm sự tiến bộ của Trung Quốc và các chế độ phi dân chủ. Cách đây vài ngày, ông cũng đã yêu cầu tăng cường quy định, với quyền dành cho chính phủ được “phong tỏa” một mô hình trong trường hợp vi phạm các biện pháp an ninh.
Nhưng hôm thứ Sáu, Anthropic đã không giấu giếm rằng họ coi biện pháp do Donald Trump đưa ra là không tương xứng. “Chúng tôi phản đối rằng việc phát hiện ra một khả năng vượt rào tiềm ẩn” các biện pháp an ninh xung quanh Fable 5 “lại biện minh cho việc thu hồi một mô hình thương mại đã được cài đặt cho hàng trăm triệu người”, doanh nghiệp lập luận, và nhìn nhận vụ việc như “một sự hiểu lầm”. Sắc lệnh của chính phủ “đã không chi tiết hóa một cách cụ thể các lý do lo ngại của mình đối với an ninh quốc gia”, doanh nghiệp khẳng định, và cho rằng một lệnh phong tỏa từ chính phủ phải tuân theo “một quy trình minh bạch, công bằng, rõ ràng và dựa trên các sự thật kỹ thuật”. “Hành động này không đáp ứng các nguyên tắc đó”, hãng lập luận.
Chính sách phát hành hạn chế của Anthropic và các lời kêu gọi quy định các mô hình tiên tiến nhất đôi khi đã bị chỉ trích như một hình thức “tiếp thị nỗi sợ hãi”, đặc biệt là bởi nhà đồng sáng lập của Mistral AI thuộc Pháp là Arthur Mensch, người lo ngại, giống như nhà đồng sáng lập của AMI Labs là Yann LeCun, về một sự hạn chế gây phiền toái cho các thực thể nhỏ trong ngành AI và cho các mô hình mã nguồn mở, vốn có thể truy cập và sửa đổi tự do. “Gieo gió gặt bão”, ông LeCun châm biếm vào thứ Bảy trên Facebook.
Cuong Nguyen dịch và tóm lược
He he, Mỹ tìm đủ 1001 cớ để đánh thuế
Mỹ đã mở điều tra thương mại (Section 301) nhằm vào chính sách giá thuốc của Đức. Lý do vì Washington cho rằng Đức trả giá quá thấp cho thuốc (đặc biệt thuốc mới) khiến cho:
- Doanh thu hãng dược giảm
- Chi phí R&D bị dồn sang người Mỹ
Mỹ nói bệnh nhân Mỹ đang gánh phần lớn chi phí phát triển thuốc toàn cầu, nên gây áp lực các nước (như Đức) phải chi trả nhiều hơn.
Kịch bản quen thuộc sẽ là, nếu Mỹ kết luận Đức không công bằng thì Mỹ có thể áp thuế trả đũa, hoặc gây sức ép để Đức tăng chi trả/giá thuốc.
https://eutoday.net/us-opens-trade-probe-into-german-drug-pricing/
https://nhandan.vn/my-dieu-tra-co-che-dinh-gia-duoc-pham-cua-duc-post970267.html
Báo Express UKcủa Anh về việc một số hộ gia đình bị yêu cầu tháo dỡ máy điều hòa. Một số chủ nhà tại Anh (đặc biệt ở London) bị yêu cầu tháo điều hòa theo quy định quy hoạch hoặc luật môi trường.
Lý do: các hội đồng địa phương cho rằng điều hòa tiêu thụ nhiều năng lượng, làm tăng phát thải CO₂
Chính sách này dựa trên nguyên tắc gọi là cooling hierarchy:
- Ưu tiên làm mát thụ động (mở cửa sổ, quạt…)
- Chỉ dùng điều hòa (làm mát chủ động) như biện pháp cuối cùng
Quy định này diễn ra trong lúc Anh đang trải qua đợt nắng nóng kỷ lục, nhiệt độ có thể lên tới ~40°C
https://www.express.co.uk/news/uk/2221773/brits-forced-remove-air-conditioning-net-zero
Báo Telegraph của Anh đưa tin, trích dẫn lời các nghị sỹ quốc hội Đức.
Đức xem xét việc thay đổi luật, áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc cho nam giới vào năm 2027,
Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Bundestag, Thomas Röwekamp, cảnh báo rằng có thể "không còn lựa chọn nào khác" ngoài việc quay lại chế độ bắt buộc.
Chính phủ Đức đặt mục tiêu tăng quy mô Bundeswehr từ 185.000 lên 260.000 quân nhân vào năm 2035.
Tuy nhiên, các nghị sĩ và lãnh đạo quốc phòng lo ngại rằng tuyển quân tự nguyện sẽ không đạt đủ chỉ tiêu này.
Vì vậy, họ để ngỏ khả năng phải quay lại nghĩa vụ quân sự bắt buộc nếu không đủ người đăng ký tự nguyện.


