Vài tóm tắt và nhận xét về những thông tin mới nhất ngày hôm nay:
- EVN và PVN chịu trách nhiệm 2 cụm nhà máy khác nhau, như vậy chúng ta có kế hoạch 4 tổ máy (4800MW) chứ không phải 2 (2400MW)
- Dự kiến muộn nhất hoàn thành 2031, tức 7 năm. Nếu đảm bảo 5 năm/tổ máy, kế hoạch này là khả thi (2025 khởi công 2 tổ đầu tiên, 2026 khởi công 2 tổ còn lại).
- Kế hoạch 2030 công suất phát đạt 150GW là không khả thi, hiện tổng công suất phát của Pháp là 135GW. Đến 2030 (6 năm nữa) VN có lẽ sẽ thêm được nhiều lắm là 20GW (mỗi năm 3GW), tức công suất phát đạt 100-105GW. Đến 2050 công suất phát không thể đạt 500GW - đây là quy mô lưới điện Ấn độ hiện nay, và quy mô GDP Ấn hiện là 400 tỷ đô, gấp 8,4 lần VN hiện nay.
Để sau ngày 28/2 coi xem Bộ Công thương trình bản "Quy hoạch điện 8 điều chỉnh" lên Chính phủ phê duyệt.
Lúc đó mới biết Quy hoạch điện 8 điều chỉnh dự kiến quy hoạch xây dựng các trung tâm điện lực ở Ninh thuận gồm Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh thuận 1 và Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh thuận 2 có cấu hình công suất như thế nào và chia ra các giai đoạn/tiến độ xây lắp ra sao.
Em không nắm được thông tin về phía này, và chỉ suy đoán:
- Ngoại trừ Nga (và TQ) nước khác không có khả năng xây dựng nhà máy điện hạt nhân dưới 6 năm. VN sẽ không dám chọn TQ vào thời điểm này do rủi ro dư luận. Do đó Nga là lựa chọn duy nhất
- Không có lý do gì giảm số lượng tổ máy tại mỗi địa điểm, do đó mỗi vị trí có ít nhất 2 tổ máy (theo kế hoạch cũ), khả năng nhiều hơn là có.
- Nga không còn sản xuất phiên bản VVER 1000MW nữa, hiện chỉ có lựa chọn bản 1200MW. Thêm 10 năm nữa khách hàng sẽ chỉ có lựa chọn phiên bản 1300MW. Nhà sản xuất luôn muốn chỉ sản xuất bản mới nhất, để tối ưu bài toán kinh tế.
- Lò VVER-1200 hiện xây nhanh nhất cũng phải mất 5 năm, từ giờ đến 31/12/2031 còn 7 năm, việc khởi công có lẽ sẽ chính thức diễn ra nửa cuối năm nay, như vậy có 6 năm, để xây 4 lò trong 6 năm ta phải khởi công 2 lò cuối năm nay (hoàn thành cuối 2030) , 2 lò cuối năm 2026 để hoàn thành cuối 2031.
Do đó em tin kế hoạch sẽ là 2x2 lò VVER-1200.
Có lẽ dự án NT1 xây 2 lò 1200MW và dự án NT2 xây 2 lò 1200MW. Tiến độ dự án thì khởi công song song cùng lúc. Việc lựa chọn nhà thầu, kiểu lò phản ứng và máy phát, khi đàm phán Hợp đồng phải rất nhanh mới kịp tiên độ xây lắp.
Trước kia, khi làm dự án nhà máy điện tua bin khí chu trình hỗn hợp Cà mau 1 và Cà mau 2, Chính phủ đã cho phép cơ chế "nhân đôi", nghĩa là chỉ lựa chọn đấu thầu, xét thầu, đàm phán HĐ với nhà thầu cho Dự án Cà mau 1; Sau đó dự án Ca mau 2 làm luôn như HĐ đã ký với nhà thầu đó, khỏi mất thời gian sức lực, tiền bạc... cho việc qua trình không cần thiết.
Lần này không rõ có cơ chế đó không?
Với phần lò phản ứng mất 5 năm, 2 lò nhanh thì cũng tổng 6 năm
Với phần Nhà máy điện tua bin hơi, làm nhà máy 1200MW, trung bình 48 tháng, hoặc quản lý tiến độ tốt cũng phải 36 tháng mới xong để phát điện. Chưa kể phải có lưới cao áp 500kV/220kV đấu nối với hệ thống điện quốc gia để có điện cho quá trình xây lắp và khi phát điện thì lối đẩy công suất phát 2x1200MW vào lưới Hệ thống 500kV/220kV.
Cụ cho em hỏi nếu ta tách phần nhà máy điện tua bin hơi ra giao cho 1 cty của phương tây thì có khả năng làm được về mặt kỹ thuật không.
Về kỹ thuât thì có thể.
Phần lo phản ứng: chỉ vài nước tiên tiến mới có kỹ thuât kinh nghiệm xây lò phản ứng, vận hành lò phản ứng phát điện đảm bảo an toàn.
Phần nhà máy điện thua bin hơi, là kỹ thuât cổ điển, có nhiều hãng lớn của các nước công nghiệp hàng đầu làm được.
Nhưng, với các dự án lớn quan trọng, thường bên quốc gia cấp vốn/đầu tư sẽ có các điều kiện ràng buộc rất chặt chẽ để tổ hợp các nhà thầu thuộc quốc gia họ sẽ chiếm hết, không buông ra cho hãng nước khác.
Thí dụ như dự án NPP, sẽ chia thành các dự án thành phần:
+ Phần Lò phản ứng và các thành phần liên quan.
+ Phần thu hồi nhiệt (hay lò hơi) và phụ kiện (bơm cấp nước lò hơi), hệ thống nước sạch khử khoáng...
+ Phần tua bin hơi và máy phát điện tua bin cùng các bộ phận khác như khối làm mát hơi nước (sau phát điện),
+ Phần sân phân phối với các Máy biến áp tăng áp (MBA lực công suất lớn), cùng dàn Thanh cái, Máy cắt...
Và còn Khối Nguồn phát dự phòng khi lò phản ứng tạm ngừng (như vào chu kỳ bảo dưỡng).
Bên cạnh đó còn phải tính đến việc có hay không khả năng kết nối giữa các Hệ thống điều khiển vận hành Lò phản ứng, Hệ điều khiển Lò thu hồi nhiệt và Hệ thống vận hành điều khiển phần Nhà máy điện tua bin hơi.
@a98 @hatam @meotamthe
Nhật tuyên bố rút khỏi cuộc đua đấu thầu làm nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam.
Reuters và thời báo Asahi đã đưa tin.
https://www.asahi.com/ajw/articles/16208469
https://www.reuters.com/business/energy/japan-pulls-out-vietnam-nuclear-project-complicating-hanois-power-plans-2025-12-08/
Bình luận:
Lý do chính thức mà phía Nhật, cụ thể là Đại sứ Nhật Bản Naoki Ito nói với Reuters, rằng vì khung thời gian tiến độ quá gấp. Việt Nam yêu cầu vận hành vào năm 2035 (cùng lúc với nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 mà Nga xây).
Chắc Nhật Bản quen với kiểu xây dựng của phương Tây, chậm tiến độ và đội vốn kéo dài trên 10 năm. Thực ra thời gian xây 1 nhà máy điện hạt nhân chuẩn mà IAEA là khoảng 5–7 năm để xây dựng một tổ máy lớn, tính từ khi bắt đầu xây dựng đến khi hoàn tất chạy thử.
Nếu kết hợp với thống kê thực tế gần đây, theo báo cáo World Nuclear Industry Status Report ghi nhận 66 tổ máy hòa lưới giai đoạn 2013–2022 có thời gian trung bình 9,4 năm tính từ khi đổ bê tông tới khi phát điện, với độ dao động rất lớn giữa các nước.
Như vậy tiến độ phía Việt Nam đưa ra không phải là khắt khe.
Thực ra, VN mình bây giờ không chấp nhận cái trò ODA kiểu ngày xưa của Nhật, mà đòi hỏi khắt khe hơn, không rõ đây có phải là một trong những lý do Nhật rút khỏi dự án VN này phải k?
Theo Reuters thì lý do nữa là nhiều công ty Nhật vẫn đang lo khôi phục lực lượng kỹ sư & chuỗi cung ứng trong nước sau Fukushima và các dự án nhà máy điện hạt nhân bị đình trệ.
Xu hướng chung của các tập đoàn Nhật là rút khỏi các dự án xuất khẩu lò lớn sau loạt cú sốc, ví dụ:
- Westinghouse (thuộc Toshiba) phá sản do đội vốn khổng lồ ở các dự án AP1000 tại Mỹ.
- Mitsubishi Heavy Industries & liên danh Nhật bỏ dự án Sinop (Thổ Nhĩ Kỳ) cũng vì chi phí tăng vọt, rủi ro tài chính, tỷ giá sau Fukushima.
- Hitachi đắp chiếu rồi hủy hẳn dự án Wylfa Newydd ở Anh vì không chốt được cấu trúc tài chính khả thi với chính phủ Anh.
Đúng như nghi ngờ hồi đầu, không hiểu Nhật làm sao xây nổi. Một nhà máy hạt nhân mang trong nó rất nhiều công nghệ, từ công nghệ nhiên liệu đến công nghệ lò, rồi công nghệ xử lý sau đó. Công nghệ nhiên liệu đã không nắm mà công nghệ lò bây giờ cũng không xong thì không hiểu sao xây được, do phụ thuộc vào AP-1000 của Westing House.
Ví dụ:
- Nhiên liệu đầu vào thì phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu và chưa có chu trình tái chế, làm giàu ổn định sau Fukushima
- Lò phản ứng với công nghệ nội địa (APWR, ATMEA1) coi như bị đóng băng trên giấy, phải dựa vào AP-1000 của Westinghouse, mà chính Westinghouse cũng lao đao vì rất nhiều vấn đề tài chính và kỹ thuật
- Xử lý nhiên liệu sau khi đã qua sử dụng, thì cai Nhà máy tái chế Rokkasho mà họ xây đến giờ vẫn chưa vận hành thương mại sau hàng chục năm trì hoãn.
Trong xây dựng hạt nhân, Nga, Hàn Quốc thường đưa ra tiến độ xây dù là dài nhưng họ giữ đúng tiến độ và chi phí trong phạm vi dự toán, nhờ mô hình EPC trọn gói và kiểm soát chuỗi cung ứng tốt.
Nhật và phương Tây hay đưa ra kế hoạch đẹp đẽ hoành tráng ban đầu, nhưng sau đó chậm tiến độ và đội vốn nhiều lần, dẫn đến rủi ro tài chính khổng lồ. Họ thường vẽ một FOAK rất tham vọng, underestimate rủi ro rồi lặp lại pattern delay + overrun.
Tóm lại, không chỉ chuỗi cung ứng suy yếu mà cả lực lượng kỹ sư cũng bị suy yếu sau Fukushima..
Hệ quả là ngay cả các dự án trong nước Nhật cũng chậm tiến độ khủng khiếp, do thiếu nhân lực, chuỗi cung ứng bị đứt gãy.
Thực tế ngay cả trong nước còn chưa xong, Nhật rõ ràng chưa đủ trình để làm tổng công trình sư cho 1 dự án nhà máy điện hạt nhân ở nước ngoài.
@a98 @hatam @meotamthe
Nhật tuyên bố rút khỏi cuộc đua đấu thầu làm nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam.
Reuters và thời báo Asahi đã đưa tin.https://www.asahi.com/ajw/articles/16208469
https://www.reuters.com/business/energy/japan-pulls-out-vietnam-nuclear-project-complicating-hanois-power-plans-2025-12-08/
Bình luận:
Lý do chính thức mà phía Nhật, cụ thể là Đại sứ Nhật Bản Naoki Ito nói với Reuters, rằng vì khung thời gian tiến độ quá gấp. Việt Nam yêu cầu vận hành vào năm 2035 (cùng lúc với nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 mà Nga xây).
Chắc Nhật Bản quen với kiểu xây dựng của phương Tây, chậm tiến độ và đội vốn kéo dài trên 10 năm. Thực ra thời gian xây 1 nhà máy điện hạt nhân chuẩn mà IAEA là khoảng 5–7 năm để xây dựng một tổ máy lớn, tính từ khi bắt đầu xây dựng đến khi hoàn tất chạy thử.
Nếu kết hợp với thống kê thực tế gần đây, theo báo cáo World Nuclear Industry Status Report ghi nhận 66 tổ máy hòa lưới giai đoạn 2013–2022 có thời gian trung bình 9,4 năm tính từ khi đổ bê tông tới khi phát điện, với độ dao động rất lớn giữa các nước.Như vậy tiến độ phía Việt Nam đưa ra không phải là khắt khe.
Thực ra, VN mình bây giờ không chấp nhận cái trò ODA kiểu ngày xưa của Nhật, mà đòi hỏi khắt khe hơn, không rõ đây có phải là một trong những lý do Nhật rút khỏi dự án VN này phải k?
Theo Reuters thì lý do nữa là nhiều công ty Nhật vẫn đang lo khôi phục lực lượng kỹ sư & chuỗi cung ứng trong nước sau Fukushima và các dự án nhà máy điện hạt nhân bị đình trệ.
Xu hướng chung của các tập đoàn Nhật là rút khỏi các dự án xuất khẩu lò lớn sau loạt cú sốc, ví dụ:
- Westinghouse (thuộc Toshiba) phá sản do đội vốn khổng lồ ở các dự án AP1000 tại Mỹ.
- Mitsubishi Heavy Industries & liên danh Nhật bỏ dự án Sinop (Thổ Nhĩ Kỳ) cũng vì chi phí tăng vọt, rủi ro tài chính, tỷ giá sau Fukushima.
- Hitachi đắp chiếu rồi hủy hẳn dự án Wylfa Newydd ở Anh vì không chốt được cấu trúc tài chính khả thi với chính phủ Anh.Đúng như nghi ngờ hồi đầu, không hiểu Nhật làm sao xây nổi. Một nhà máy hạt nhân mang trong nó rất nhiều công nghệ, từ công nghệ nhiên liệu đến công nghệ lò, rồi công nghệ xử lý sau đó. Công nghệ nhiên liệu đã không nắm mà công nghệ lò bây giờ cũng không xong thì không hiểu sao xây được, do phụ thuộc vào AP-1000 của Westing House.
Ví dụ:
- Nhiên liệu đầu vào thì phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu và chưa có chu trình tái chế, làm giàu ổn định sau Fukushima
- Lò phản ứng với công nghệ nội địa (APWR, ATMEA1) coi như bị đóng băng trên giấy, phải dựa vào AP-1000 của Westinghouse, mà chính Westinghouse cũng lao đao vì rất nhiều vấn đề tài chính và kỹ thuật
- Xử lý nhiên liệu sau khi đã qua sử dụng, thì cai Nhà máy tái chế Rokkasho mà họ xây đến giờ vẫn chưa vận hành thương mại sau hàng chục năm trì hoãn.Trong xây dựng hạt nhân, Nga, Hàn Quốc thường đưa ra tiến độ xây dù là dài nhưng họ giữ đúng tiến độ và chi phí trong phạm vi dự toán, nhờ mô hình EPC trọn gói và kiểm soát chuỗi cung ứng tốt.
Nhật và phương Tây hay đưa ra kế hoạch đẹp đẽ hoành tráng ban đầu, nhưng sau đó chậm tiến độ và đội vốn nhiều lần, dẫn đến rủi ro tài chính khổng lồ. Họ thường vẽ một FOAK rất tham vọng, underestimate rủi ro rồi lặp lại pattern delay + overrun.Tóm lại, không chỉ chuỗi cung ứng suy yếu mà cả lực lượng kỹ sư cũng bị suy yếu sau Fukushima..
Hệ quả là ngay cả các dự án trong nước Nhật cũng chậm tiến độ khủng khiếp, do thiếu nhân lực, chuỗi cung ứng bị đứt gãy.Thực tế ngay cả trong nước còn chưa xong, Nhật rõ ràng chưa đủ trình để làm tổng công trình sư cho 1 dự án nhà máy điện hạt nhân ở nước ngoài.
Ta muốn đa dạng hoá để không cho hết trứng vào 1 giỏ, nhưng em cho là tư duy đấy hơi sai lầm, còn nếu phân bố ra để cân bằng sức mạnh và áp lực giữa các nước lớn thì còn chấp nhận được. Điện hạt nhân hiện tại tốt nhất theo em vẫn là thông qua Nga, chiến lược của Nga đối với Việt Nam khác với chiến lược của Mỹ hoặc phương Tây đối với Việt Nam, nên vẫn sống an toàn chờ thời được.
Mà cũng không loại trừ, trong đội hình chính sách vẫn còn rất nhiều đầu mối hướng ngoại theo phương Tây, những đầu mối này tuy có chút khác nhau nhưng đa số đều bài Nga, bài Trung Quốc phản ánh quan điểm của phương Tây, sắp vào cuộc bể dâu quy mô lớn, không loại trừ kịp thì kiểu gì cũng dính chiêu cắt tiết.
Như đã nói, trước đây tuabin hơi Arabelle này do Alstom Grid của Pháp làm cả phần cứng (nhà máy Belfort) lẫn phần mềm điều khiển (và các ứng dụng liên quan). Sau khi GE của Mỹ mua lại Alstom Grid thì Arabelle thuộc về sổ hữu của họ. Họ đã loại bỏ phần mềm điều khiển của Pháp thay bằng của Mỹ, chỉ giữ lại phần cứng của Pháp. Sau đó EDF của Pháp lại mua lại được mảng Arabelle từ GE, nên bây giờ Arabelle có phần cứng Pháp, nhưng phần mềm vẫn là của Mỹ chưa quay lại được của Pháp.
Vậy nghĩa là nếu dùng tuabin hơi Arabelle này là phụ thuộc vào cả Pháp và Mỹ
Rất may là Việt nam vẫn chưa dùng tuabin hơi Arabelle này, lời khuyên là chúng ta nên thận trọng. Nếu trước đây toàn bộ nó là Pháp cả phần cứng và phần mềm thì nên mua, bây giờ nửa Pháp nửa Mỹ thế này lại khiến ta bị lệ thuộc cả 2 phía.
Tốt nhất là nên mua của Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc hoặc Nga. Theo tôi biết tuabin hơi Hàn Quốc, Nhật Bản do họ kiểm soát cả phần mềm và phần cứng (full-stack) dù khi xuất khẩu nó có thể dùng được với các phần mềm nước khác nếu khách hàng yêu cầu
Tiếp tục về các thiết bị conventional island, như đã nói ở post trên:
- Hai block số 1 và số 2 dùng lò VVER-1200 đang vận hành ở nhà máy điện hạt nhân Leningrad NPP-2 (thực ra là tổ máy số 5 & 6 theo số thứ tự toàn nhà máy) đang vận hành dùng tuabin hơi tốc độ nhanh (full-speed, 3000 rpm) do Power Machines (LMZ + Electrosila) của Nga chế tạo.
- Hai block tiếp theo, số 3 và sô 4 của nhà máy này, đang có tin đồn rằng Nga định mua tuabin hơi tốc độ thấp của Dongfang Electric Corporation của Trung Quốc, chưa có xác nhận chính thức của Rosatom.
Nếu tin này là thật, thì nó cũng có sự hợp lý và dễ hiểu.
- Power Machines của Nga đảm nhiệm việc chế tạo tuabin tốc độ thấp cho nhà máy hạt nhân dùng lò thế hệ mới VVER-TOI ở nhà máy hạt nhân Kursk 2, và chưa rảnh tay để chế tạo tuabin hơi tốc độ thấp cho loại nhà máy dùng lò VVER-1200.
Nếu Leningrad NPP-2 mà đặt hàng/chờ đợi tuabin hơi tốc độ thấp của PM chế tạo thì không biết đến giờ nào mới nhận được, trong khi về giá cả chắc chắn tuabin hơi Trung Quốc giá rẻ hơn mà chất lượng lại tốt (đã được đánh giá trong nhóm hàng đầu thế giới, dòng mainstream).
- Điểm lại các nhà máy điện hạt nhân với họ lò VVER 1000 và 1200 mà Nga đã xây trong nước và nước ngoài, thì thực tế nó chỉ toàn vận hành với tuabin hơi tốc độ cao, chưa từng vận hành với tuabin hơi tốc độ thấp.
+ Lò VVER-1200 mà Nga xây ở Belarus, Banglades, và lò VVER-1000 mà Nga xây ở Ấn Độ vẫn dùng tuabin hơi tốc độ cao của Nga (PM). Nhà máy hạt nhân Kursk 2 dùng tuabin hơi tốc độ thấp của PM nhưng là loại lò VVER-TOI, không phải VVER-1200
+ Nhà máy xây ở Thổ và Ai Cập với lò VVER-1200 dự định dùng tuabin hơi Arabelle tốc độ thấp. Bây giờ nếu có thêm một nhà máy VVER-1200 dùng tuabin hơi tốc độ thấp của Trung Quốc thì càng thuận lợi cho xuất khẩu.
- Với các nhà máy điện hạt nhân mà Nga đã xây xong và đang xây ở Trung Quốc:
+ Các tổ máy 1, 2 của nhà máy điện hạt nhân Tianwan (Điền Loan) dùng lò VVER-1000 (mà Nga đã xây xong và đang vận hành) ở Trung Quốc tỉnh Giang Tô, thì dùng tuabin hơi tốc độ cao của hãng PM Nga
+ Các tổ máy 3, 4 của nhà máy điện hạt nhân Tianwan này, cũng dùng lò VVER-100 (mà Nga đã xây xong và đang vận hành), thì dùng tuabin hơi của hãng Harbin Electric Trung Quốc, tuabin hơi tốc độ cao
+ Các tổ máy 7, 8 của nhà máy Tianwan này, dùng lò VVER-1200 (mà Nga đang xây), là dùng tuabin hơi tốc độ thấp của hãng Shanghai Electric / Shanghai Turbine Works Trung Quốc
+ Nhà máy điện hạt nhân Xudabao (Từ Đại Bảo) dùng lò VVER-1200 (mà Nga đang xây ở tỉnh Liêu Ninh) dùng tuabin hơi tốc độ thấp của hãng Shanghai Electric / Shanghai Turbine Works Trung Quốc
Như vậy dù thế nào thì nhà máy hạt nhân của Nga cũng sẽ vận hành với tuabin hơi Trung Quốc.
- Tuabin hơi của Trung Quốc đã chứng minh có chất lượng tốt không kém phương Tây trong thực tế, giá cả lại phải chăng, trong khi thanh toán giữa Nga và Trung Quốc dựa trên đồng nội tệ 2 bên, không bị lệ thuộc trực tiếp vào USD
Trong các report thị trường gần đây, nhóm OEM lõi của tuabin hơi toàn cầu được liệt kê là: Dongfang Turbine, Siemens, GE, Shanghai Electric, Hangzhou Steam Turbine (HTC)…, chiếm khoảng 51% thị phần; riêng Dongfang Turbine được xếp là nhà sản xuất tuabin hơi lớn nhất thế giới với khoảng 14% thị phần.
Việc đứng chung bảng xếp hạng này với Siemens/GE, lại còn dẫn đầu về sản lượng, nghĩa là các tuabin TQ đã được thị trường toàn cầu chấp nhận như một lựa chọn mainstream, chứ không phải hàng hạng hai.
Bổ sung thêm:
Như vậy, thực tế loại nhà máy dùng họ lò VVER (1000 và 1200) chưa bao giờ dùng với tuabin hơi tốc độ thấp. Nếu bây giờ có thực tế nó chạy với đủ loại tuabin hơi từ cao đến thấp, từ đủ các hãng khác nhau thì rất lợi cho xuất khẩu.
Suy cho cùng, các hãng Trung Quốc, Siemens, Alstom Grid, GE, etc. đều có mạng lưới bảo trì, sửa chữa, vận hành, phụ tùng, đào tạo khắp nơi trên thế giới. Nếu dùng đồ của họ cho xuất khẩu thì dễ hơn rất nhiều, vì tận dụng được mạng lưới này.
Nếu dùng đồ của Nga thì Nga phải xây mạng lưới này ở chính nước đó, như Nga đã làm với Ấn Độ và Bangladesh (nếu không muốn phải gửi thiết bị về Nga để xử lý).
Như vậy, nếu nước ta mà xài VVER-1200 thì có rất nhiều lựa chọn: dùng tuabin hơi tốc độ cao theo truyền thống (số nhà cung cấp vô số, và nó đã là thông lệ thói quen trên thế giới), dùng tuabin hơi tốc độ thấp (cũng có không ít nhà cung cấp)
Các hãng Trung Quốc nói trên như: Dongfang Turbine (DTC)/Dongfang Electric (DEC), Shanghai Electric/Shanghai Turbine Works (STW) (trừ Hangzhou Steam Turbine (HTC))… và hãng phương Tây Siemens, GE, đều có cơ sở bảo trì, sửa chữa, phụ tùng, đào tạo ở Việt Nam
Cả 3 hãng Dongfang Turbine (DTC)/Dongfang Electric (DEC), Shanghai Electric/Shanghai Turbine Works (STW), Hangzhou Steam Turbine (HTC) đều đã có sản phẩm (thiết bị điện, tuabin hơi) bán cho khách hàng Việt Nam, đang vận hành tại Việt Nam.
Riêng hãng Hangzhou HTC thì các nhà máy Việt Nam dùng tuabin HTC thường thuê contractor nội địa + team từ Indonesia/Trung Quốc sang làm major overhaul.
Lý do là vì riêng hãng Hangzhou Steam Turbine (HTC) chưa có mạng lưới bảo trì ở Việt Nam như các hãng Trung Quốc khác, nhưng có ở Indonesia, ngoài ra họ có đội hậu mãi 7×24h, trung tâm giám sát/chuẩn đoán từ xa, và hỗ trợ tại hơn 40 quốc gia, cung cấp bảo trì, phụ tùng, lắp đặt, commissioning theo yêu cầu.
Chính hãng Alstom-EDF với tuabin hơi Arabelle thì lại chưa có base ở Việt Nam cho tuabin này, mà chỉ có mạng lưới service châu Á, hỗ trợ khu vực chủ yếu từ các base ở Pháp, Hàn, Trung Quốc, và làm việc qua mobile workshops + partner.
Như vậy nếu làm ở Việt Nam, chưa chắc đã nên chọn tuabin hơi Arabelle
....
Chính hãng Alstom-EDF với tuabin hơi Arabelle thì lại chưa có base ở Việt Nam cho tuabin này, mà chỉ có mạng lưới service châu Á, hỗ trợ khu vực chủ yếu từ các base ở Pháp, Hàn, Trung Quốc, và làm việc qua mobile workshops + partner.
Như vậy nếu làm ở Việt Nam, chưa chắc đã nên chọn tuabin hơi Arabelle
EVN đã có dự án trung tâm sửa chữa bảo hành/bảo trì tua bin khí và tua bin hơi từ lâu rồi, quãng 200x, trung tâm này có trang thiết bị của Alstom, và đặt gần Trung tâm điện lực Phú mỹ. Trung tâm này làm dịch vụ sửa chữa bảo trì toàn bộ các máy nhà máy điện có máy tua bin khí, tua bin hơi ở khu vực Phú Mỹ, Nhơn trạch, Bà rịa, Cà mau...
Ở các nhà máy điện chu trình hỗn hợp:
+ NMĐ Ba rịa có 6 máy tua bin khí, gồm 3 máy loại 37MW F6 Alstom (thực chất là máy F6 của GE Mỹ), 3 máy loại 37MW của John Brown Anh; và 2 máy tua bin hơi: 1 máy 60MW Alstom, 1 máy 60MW Hàn quốc (Dawoo hay Samsung/Hyundai lâu ko rõ)... nên xài phần mèm điều khiển có đủ các nước.
Thử tính các Trung tâm điện lực Phú mỹ và Nhơn trạch:
+ Phú mỹ 1: có 3 máy tua bin khí MHI loại 701F, tổng công suất 3x240MW, 1 máy tua bin hơi MHI 370MW, phần mềm điều khiển TBK và tua bin hơi đều của MHI Nhật
+ Phú mỹ 2.1: 2 tua bin khí loại 150MW ABB/Alstom; 1 tua bin hơi Alstom 150MW; toàn bộ phần mềm Alstom
+ Phú mỹ 2.1.Ext: 2 tua bin khí loại 150MW Siemens; 1 tua bin hơi Siemens 150MW; phần mềm Siemens
+ Phú mỹ 2.2: 2 tua bin khí loại 250MW GE; 1 tua bin hơi GE 250MW; toàn bộ phần mềm GE (ver. GE MARK V)
+ Phú mỹ 3: 2 tua bin khí loại 250MW Siemens; 1 tua bin hơi Siemens 250MW; toàn bộ phần mềm Siemens
+ Phú mỹ 4: 2 tua bin khí loại 150MW Alstom; 1 tua bin hơi Alstom 150MW; toàn bộ phần mềm Alstom.
+ Nhơn trạch 1: 2 tua bin khí loại 150MW Alstom; 1 tua bin hơi Alstom 150MW; toàn bộ phần mềm Alstom
+ Nhơn trạch 2: 2 tua bin khí loại 250MW Siemens; 1 tua bin hơi Siemens 250MW; phần mềm Siemens
+ Nhơn trạch 3: 2 tua bin khí loại 270MW GE; 1 tua bin hơi GE 270MW; toàn bộ phần mềm GE (ver. GE MARK V/VI)
+ Nhơn trạch 4: 2 tua bin khí loại 270MW GE; 1 tua bin hơi GE 270MW; toàn bộ phần mềm GE (ver. GE MARK V/VI)
Trong đó Nhơn trạch 3 và 4 đều là NMĐ đốt LNG nhập khẩu, và là các nhà máy điện tua bin khí dùng máy GE có công suất 812MW, chạy ở chu trình hỗn hợp có hiệu suất 64,2%.
....
Chính hãng Alstom-EDF với tuabin hơi Arabelle thì lại chưa có base ở Việt Nam cho tuabin này, mà chỉ có mạng lưới service châu Á, hỗ trợ khu vực chủ yếu từ các base ở Pháp, Hàn, Trung Quốc, và làm việc qua mobile workshops + partner.
Như vậy nếu làm ở Việt Nam, chưa chắc đã nên chọn tuabin hơi Arabelle
EVN đã có dự án trung tâm sửa chữa bảo hành/bảo trì tua bin khí và tua bin hơi từ lâu rồi, quãng 200x, trung tâm này có trang thiết bị của Alstom, và đặt gần Trung tâm điện lực Phú mỹ. Trung tâm này làm dịch vụ sửa chữa bảo trì toàn bộ các máy nhà máy điện có máy tua bin khí, tua bin hơi ở khu vực Phú Mỹ, Nhơn trạch, Bà rịa, Cà mau...
Ở các nhà máy điện chu trình hỗn hợp:
+ NMĐ Ba rịa có 6 máy tua bin khí, gồm 3 máy loại 37MW F6 Alstom (thực chất là máy F6 của GE Mỹ), 3 máy loại 37MW của John Brown Anh; và 2 máy tua bin hơi: 1 máy 60MW Alstom, 1 máy 60MW Hàn quốc (Dawoo hay Samsung/Hyundai lâu ko rõ)... nên xài phần mèm điều khiển có đủ các nước.
Thử tính các Trung tâm điện lực Phú mỹ và Nhơn trạch:
+ Phú mỹ 1: có 3 máy tua bin khí MHI loại 701F, tổng công suất 3x240MW, 1 máy tua bin hơi MHI 370MW, phần mềm điều khiển TBK và tua bin hơi đều của MHI Nhật
+ Phú mỹ 2.1: 2 tua bin khí loại 150MW ABB/Alstom; 1 tua bin hơi Alstom 150MW; toàn bộ phần mềm Alstom
+ Phú mỹ 2.1.Ext: 2 tua bin khí loại 150MW Siemens; 1 tua bin hơi Siemens 150MW; phần mềm Siemens
+ Phú mỹ 2.2: 2 tua bin khí loại 250MW GE; 1 tua bin hơi GE 250MW; toàn bộ phần mềm GE (ver. GE MARK V)
+ Phú mỹ 3: 2 tua bin khí loại 250MW Siemens; 1 tua bin hơi Siemens 250MW; toàn bộ phần mềm Siemens
+ Phú mỹ 4: 2 tua bin khí loại 150MW Alstom; 1 tua bin hơi Alstom 150MW; toàn bộ phần mềm Alstom.
+ Nhơn trạch 1: 2 tua bin khí loại 150MW Alstom; 1 tua bin hơi Alstom 150MW; toàn bộ phần mềm Alstom
+ Nhơn trạch 2: 2 tua bin khí loại 250MW Siemens; 1 tua bin hơi Siemens 250MW; phần mềm Siemens
+ Nhơn trạch 3: 2 tua bin khí loại 270MW GE; 1 tua bin hơi GE 270MW; toàn bộ phần mềm GE (ver. GE MARK V/VI)
+ Nhơn trạch 4: 2 tua bin khí loại 270MW GE; 1 tua bin hơi GE 270MW; toàn bộ phần mềm GE (ver. GE MARK V/VI)
Trong đó Nhơn trạch 3 và 4 đều là NMĐ đốt LNG nhập khẩu, và là các nhà máy điện tua bin khí dùng máy GE có công suất 812MW, chạy ở chu trình hỗn hợp có hiệu suất 64,2%.
Nhưng họ vẫn chưa từng làm với tuabin hơi tốc độ chậm Arabelle bác ạ, và hình như nhân sự của mình cũng chưa được huấn luyện hay có kinh nghiệm không chỉ với tuabin hơi Arabelle nói riêng và tuabin hơi tốc độ chậm nói chung thì phải.
@a98 @hatam @meotamthe
Công ty Nhật Bản làm giả số liệu nhà máy điện hạt nhân. Đây cũng chẳng phải là lần đầu tiên như vậy. Mình nhớ từ hồi xưa đã từng nghe về chuyện này.
Còn muốn mua nhà máy của Nhật Bản à? Tin vào đạo đức của họ? Vụ scandal này càng sẽ làm chậm tiến độ việc xây tái khôi phục ngành điện hạt nhân của họ
Cơ quan giám sát hạt nhân của Nhật Bản hôm thứ Tư cho biết họ sẽ hủy bỏ việc kiểm tra an toàn đối với hai lò phản ứng tại nhà máy điện hạt nhân Hamaoka ở miền trung Nhật Bản sau khi phát hiện đơn vị vận hành nhà máy đã làm giả dữ liệu về rủi ro động đất, đây là một trở ngại đối với nỗ lực của Nhật Bản trong việc đẩy nhanh quá trình khởi động lại các lò phản ứng để thúc đẩy việc sử dụng năng lượng hạt nhân.
@a98 @hatam @meotamthe
Công ty Nhật Bản làm giả số liệu nhà máy điện hạt nhân. Đây cũng chẳng phải là lần đầu tiên như vậy. Mình nhớ từ hồi xưa đã từng nghe về chuyện này.
Còn muốn mua nhà máy của Nhật Bản à? Tin vào đạo đức của họ? Vụ scandal này càng sẽ làm chậm tiến độ việc xây tái khôi phục ngành điện hạt nhân của họCơ quan giám sát hạt nhân của Nhật Bản hôm thứ Tư cho biết họ sẽ hủy bỏ việc kiểm tra an toàn đối với hai lò phản ứng tại nhà máy điện hạt nhân Hamaoka ở miền trung Nhật Bản sau khi phát hiện đơn vị vận hành nhà máy đã làm giả dữ liệu về rủi ro động đất, đây là một trở ngại đối với nỗ lực của Nhật Bản trong việc đẩy nhanh quá trình khởi động lại các lò phản ứng để thúc đẩy việc sử dụng năng lượng hạt nhân.
Có một ý khác phải nhớ bác ạ, đó là Nhật Bản là cánh tay nối dài thay thế Mỹ thao tác ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nếu Mỹ không muốn Việt Nam có điện hạt nhân, chỉ cần Việt Nam tìm Nhật Bản thi công, công trình sẽ cứ lần lữa mãi không xong, đội vốn kéo dài tiến độ cũng đủ giết hại nền kinh tế, xong nữa để lại sự cố để sau một thời gian vỡ ra, Việt Nam lúc đó xử lý cũng khó, kinh tế sẽ lại chịu ảnh hưởng lần nữa. Do vậy, xây dựng cái gì đặc biệt quan trọng liên quan đến sống còn, không thể tuỳ tiện chọn đối tác được, hiện giờ điện hạt nhân chỉ có thể chọn thế lực có quan điểm ủng hộ Việt Nam lâu dài và không có thù hằn với Việt Nam thôi, trong phạm vi đấy em thấy chỉ còn mỗi Nga, chứ phương Tây, Nhật Hàn hay cả Trung Quốc đều có nguy cơ.
Mong quá mong mẹ đi chợ về. Trong năm nay sẽ phê duyệt dự án.
Sau nhiều vòng đàm phán, Việt Nam đã cơ bản thống nhất được với phía Nga dự thảo Hiệp định về hợp tác xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1.
Ngày 26/1, Thường trực Chính phủ và Thường vụ Đảng ủy Chính phủ họp thông qua các dự thảo báo cáo, tờ trình cấp có thẩm quyền về các dự án điện hạt nhân.
Theo thông tin tại cuộc họp, sau nhiều vòng đàm phán, Việt Nam đã cơ bản thống nhất được với phía Nga toàn bộ dự thảo Hiệp định về hợp tác xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Nhà điều hành cũng hoàn thành xây dựng thể chế, triển khai một số công việc giải phóng mặt bằng, đào tạo nhân lực...
Các đại biểu thống nhất các nội dung quan trọng để xây dựng các báo cáo, tờ trình, xin ý kiến cấp có thẩm quyền về dự án này.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, ngày 26/1. Ảnh: VGP
Năm ngoái, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 70 về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, trong đó yêu cầu sớm triển khai các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Trong đó, nhà máy Ninh Thuận 1 do EVN làm chủ đầu tư, đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam (cũ).
Tại hội nghị cuối tháng trước, ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cho biết EVN kỳ vọng chủ trương điều chỉnh đầu tư, Hiệp định liên Chính phủ, tín dụng của dự án sẽ được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong năm 2026. Ngoài ra, các bên tiếp tục trao đổi, hoàn thiện bước chuẩn bị để khởi công một số hạng mục dự án trong 2026.
Trước đó, Tập đoàn Rosatom của Nga điện đàm với Thủ tướng Phạm Minh Chính, cam kết hợp tác với Việt Nam xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất.
Kết luận cuộc họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh xây dựng nhà máy điện hạt nhân là dự án lớn, mang tính chiến lược, tầm nhìn trăm năm. Song đây cũng là lĩnh vực mới, công nghệ cao, có tính chất nhạy cảm, nhất là về an toàn hạt nhân.
Lãnh đạo Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương cùng các bộ, cơ quan, tập đoàn liên quan hoàn thiện dự thảo các báo cáo, tờ trình của Đảng ủy Chính phủ về dự án. Cơ quan này được giao trình dự thảo Hiệp định giữa Việt Nam và Nga và các đề xuất để cấp có thẩm quyền xem xét.
Thủ tướng lưu ý nội dung các báo cáo, tờ trình phải ngắn gọn, đầy đủ, tập trung thể hiện rõ quá trình thực hiện dự án, tình hình và kết quả đàm phán, nội dung cốt lõi của dự thảo Hiệp định về dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 đã được hai bên trao đổi kỹ. Ngoài ra, báo cáo cần đề cập tới các nội dung liên quan việc thúc đẩy triển khai Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Các báo cáo, dự thảo phải hoàn thành trong ngày 27/1.
Phương Dung
Cũng hơi dài.
Cụ nào quan tâm thì đọc tạm.
Chia sẻ của Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam trước thềm năm mới - Xuân Bính Ngọ (2026)
04:52 | 24/01/2026
TS. Trần Chí Thành: Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Viện NLNTVN, hay VINATOM) là Viện nghiên cứu đặc biệt của Việt Nam về lĩnh vực năng lượng nguyên tử (NLNT). NLNT là lĩnh vực đưa khoa học - công nghệ hạt nhân (kỹ thuật hạt nhân, công nghệ bức xạ) vào ứng dụng trong các lĩnh vực, bao gồm trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp và tài nguyên môi trường. Ứng dụng NLNT bao gồm ứng dụng phi điện và ứng dụng điện - chính là điện hạt nhân (ĐHN).
Theo lịch sử phát triển của ngành hạt nhân, ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đến phát triển điện hạt nhân (ĐHN). Tháng 7 năm 1955, trong chuyến thăm chính thức Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của thế giới tại Obninsk (chỉ 1 năm sau khi nhà máy ĐHN đưa vào vận hành). Sau chuyến thăm này, Đảng và Nhà nước Việt Nam bắt đầu gửi các cán bộ xuất sắc sang Liên Xô học tập, nghiên cứu về vật lý hạt nhân tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Dubna và các trường đại học. Các thế hệ cán bộ ngành hạt nhân đầu tiên đã hình thành và đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ngành hạt nhân Việt Nam sau đó. Điển hình là GS. Nguyễn Đình Tứ, GS. Nguyễn Văn Hiệu…
Viện NLNTVN được thành lập năm 1976, bắt đầu từ Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt với nền tảng là lò hạt nhân Đà Lạt được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của Viện NLNTVN là khôi phục và nâng cấp lò Đà Lạt với sự giúp đỡ của Liên Xô, đưa vào vận hành năm 1984. Ngành NLNT của Việt Nam được hình thành và phát triển từ nền tảng lò Đà Lạt với sự đóng góp của các thế hệ cán bộ nghiên cứu thời kỳ đó. Đảng và Nhà nước cũng giao nhiệm vụ nghiên cứu phát triển ĐHN cho Viện NLNTVN ngay từ những thời kỳ đầu mới thành lập, một số cán bộ được đào tạo theo chuyên ngành ĐHN ở Liên Xô cũng quay về Viện làm việc. Tuy nhiên, do sự cố Chernobyl xảy ra năm 1986, các kế hoạch về phát triển ĐHN ở Việt Nam bị dừng lại.
Từ 1996, nhiệm vụ phát triển ĐHN lại tiếp tục được nghiên cứu, bắt đầu từ tìm kiếm và lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy ĐHN. Viện NLNTVN cùng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) đã khảo sát tìm kiếm các địa điểm trên toàn quốc để đưa ra các địa điểm tiềm năng, theo các yêu cầu, quy định và phương pháp của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Từ năm 2002, Bộ Công Thương triển khai Nghiên cứu tiền khả thi (Pre-FS) và khảo sát đánh giá địa điểm. Nhiệm vụ được triển khai cùng với đội ngũ cán bộ của Viện NLNTVN. Các công nghệ ĐHN (lò nước áp lực - PWR, lò nước sôi - BWR, lò nước nặng - PHWR) được nghiên cứu, đánh giá về an toàn, cũng như được lựa chọn theo các tiêu chí đặt ra.
Năm 2009, Quốc hội Việt Nam phê duyệt 2 dự án ĐHN tại 2 địa điểm Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2, với công nghệ ưu tiên là lò nước áp lực (PWR) và lò nước sôi (BWR).
Năm 2010, Việt Nam ký Hiệp định triển khai ĐHN với Liên bang Nga và Nhật Bản. Hợp đồng Nghiên cứu khả thi (FS) và Hồ sơ địa điểm (SAD) được ký với các đối tác năm 2011.
Từ 2010-2016, Viện NLNTVN triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu về công nghệ và an toàn cho 2 dự án Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Viện đã xây dựng Bộ tiêu chí lựa chọn công nghệ cho 2 dự án ĐHN, đề xuất lựa chọn công nghệ (thiết kế) cho 2 dự án; đồng thời nghiên cứu đánh giá kỹ về an toàn của một số thiết kế tiên tiến (như VVER1200, AP1000).
Từ 2016-2024, mặc dù chương trình ĐHN dừng lại, không có nhiệm vụ nào liên quan được triển khai, tuy nhiên Viện NLNTVN vẫn tiếp tục xây dựng năng lực về công nghệ và an toàn ĐHN, nghiên cứu về các công nghệ tiên tiến thế hệ III+, cũng như nghiên cứu công nghệ lò mô đun nhỏ (SMR) trong vài năm gần đây. Có 3 nhóm nghiên cứu tại Viện NLNTVN triển khai các nhiệm vụ liên quan ĐHN - công nghệ, phân tích đánh giá an toàn (nhiệm vụ cấp cơ sở, cấp Bộ và hợp tác quốc tế với đối tác), trong đó 2 nhóm tại Hà Nội và 1 nhóm tại Đà Lạt.
Từ cuối năm 2024, khi chương trình ĐHN được khởi động trở lại, Viện NLNTVN xác định rõ nhiệm vụ nghiên cứu về công nghệ, thiết kế tiên tiến, cũng như phân tích đánh giá an toàn ĐHN. Viện tập trung đẩy mạnh đào tạo nhân lực, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu đàn, xây dựng các đề án, nhiệm vụ lớn liên quan đến công nghệ, thiết kế ĐHN và phân tích, đánh giá an toàn các nhà máy ĐHN dùng lò công suất lớn (khoảng 1.000 MWe) để hỗ trợ cho dự án ĐHN Ninh Thuận, cũng như triển khai tích cực việc nghiên cứu thiết kế SMR để triển khai tại Việt Nam trong tương lai.
![]() |
| TS. Trần Chí Thành - Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam. Ảnh: TTTT. |
Xin ông cho biết suy nghĩ của mình về chương trình điện hạt nhân của Việt Nam. Theo ông, yếu tố nào là quan trọng cho thành công của các dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận nói riêng và chương trình điện hạt nhân dài hạn của Việt Nam nói chung?
TS. Trần Chí Thành: Hiện nay việc phát triển ĐHN là xu thế của nhiều nước trên thế giới. ĐHN là nguồn điện công suất lớn, ổn định, không phát thải CO2, phù hợp với yêu cầu phát triển hiện nay của thế giới (đảm bảo an ninh năng lượng, chuyển đổi năng lượng xanh, phù hợp cho công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn v.v...). Việc Việt Nam quay trở lại với chương trình phát triển ĐHN là quyết định đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nhằm đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới mạnh mẽ, với nền tảng khoa học và công nghệ. Tôi tin tưởng rằng, Việt Nam sẽ triển khai thành công chương trình phát triển ĐHN.
Đối với các dự án ĐHN tại Ninh Thuận và chương trình phát triển ĐHN nói chung, vấn đề nhân lực là quan trọng nhất. Việt Nam cần có chỉ đạo tập trung cho việc phát triển ĐHN và chú trọng đào tạo nhân lực (bằng nhiều cách). Nhân lực hạt nhân phải được tập trung và phát triển trong một kế hoạch triển khai ĐHN tổng thể, thống nhất do Chính phủ chỉ đạo. Theo tôi, ĐHN không thể phát triển theo cách “trăm hoa đua nở”, vì ĐHN là lĩnh vực được xây dựng và phát triển trên nhiều nền tảng quan trọng, được xây dựng trong thời gian dài (theo kinh nghiệm các nước). Chương trình ĐHN phải bao gồm các nhà máy ĐHN (các chủ đầu tư) được triển khai xây dựng theo một quy trình đầy đủ, chặt chẽ (chất lượng cao nhất), có sự tư vấn, giám sát quốc tế; cùng hệ thống pháp quy hạt nhân đầy đủ và cơ quan quản lý, giám sát về an toàn có đủ năng lực; và chương trình nghiên cứu (R&D) dài hạn luôn luôn hỗ trợ, hướng tới các vấn đề khoa học, phát triển của ĐHN. Trong mọi khâu của 3 trụ cột này, nhân lực là yếu tố quan trọng nhất (nhân lực kỹ thuật và quản lý). Phải có nhân lực đáp ứng tốt trong một tổng thể phát triển và thống nhất.
Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam được giao là tổ chức hỗ trợ kỹ thuật cho phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Xin ông cho biết cụ thể nhiệm vụ đó là gì? Viện đã chuẩn bị như thế nào để thực hiện được nhiệm vụ đó?
TS. Trần Chí Thành: Hiện nay Viện NLNTVN là đơn vị nghiên cứu về công nghệ và an toàn ĐHN. Tập trung của Viện là đội ngũ cán bộ nghiên cứu về công nghệ, thiết kế ĐHN tiên tiến và phân tích, đánh giá an toàn của các thiết kế đó.
Như đã nêu trên, Viện NLNTVN có nhiều nhóm nghiên cứu về công nghệ và an toàn hạt nhân (tập trung về động học neutron, thuỷ nhiệt, an toàn), việc hình thành các nhóm nghiên cứu là một quá trình phát triển lâu dài theo lịch sử.
Ngoài các nhóm nghiên cứu này, các nhóm khác liên quan cũng quan trọng cho chương trình phát triển ĐHN như:
- Nhóm về vật lý hạt nhân (khoa học nền tảng cho phát triển ĐHN).
- Các nhóm về an toàn bức xạ.
- Nhóm về đánh giá kiểm tra không phá huỷ liên quan đến thiết bị, công trình và môi trường bức xạ.
- Nhóm về nhiên liệu hạt nhân (Uranium) - nội dung quan trọng cho phát triển ĐHN bền vững.
- Nhóm về vật liệu hạt nhân (thép, hợp kim, tương tác bức xạ...).
- Nhóm về xử lý hoá học (xử lý nước cho nhà máy ĐHN).
- Nhóm về điều khiển lò, điều khiển tự động.
- Nhóm về xử lý và quản lý chất thải phóng xạ.
- Nhóm về chế tạo thiết bị ghi đo bức xạ.
- Nhóm về quan trắc phóng xạ và mô phỏng phát tán phóng xạ…
Tất cả các nhóm nêu trên là nền tảng để phát triển ĐHN bền vững.
Về nhiệm vụ Hỗ trợ kỹ thuật (TSO). Đây là nhiệm vụ mới hiện nay Bộ KHCN giao cho Viện triển khai để hỗ trợ cơ quan pháp quy hạt nhân. Về nguyên tắc, đơn vị hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan pháp quy hạt nhân có thể là bất kỳ cơ quan nghiên cứu nào đó trong nước, có đủ năng lực (viện nghiên cứu, trường đại học). Đơn vị này phải độc lập với các tư vấn cho các chủ đầu tư. Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam chưa có tổ chức nghiên cứu có đầy đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ kỹ thuật (do ĐHN dừng từ 2016-2024), Viện NLNTVN sẵn sàng nhận nhiệm vụ xây dựng TSO cho cơ quan pháp quy. Viện sẽ giao cho một đơn vị trực thuộc thực hiện nhiệm vụ này, phối hợp với Cục An toàn Bức xạ Hạt nhân (VARANS) xây dựng năng lực, cũng như để bảo đảm tính độc lập với các tư vấn hỗ trợ khác cho các chủ đầu tư. Tuy nhiên, tôi cũng hy vọng trong tương lai, sẽ có thêm các tổ chức nghiên cứu khác có năng lực hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan pháp quy hạt nhân (nếu các tổ chức nghiên cứu khác tập trung xây dựng năng lực đáp ứng yêu cầu).
EVN được giao triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, PVN được giao triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Xin ông cho biết, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam đang có hợp tác cụ thể và dài hạn gì với 2 tập đoàn này?
TS. Trần Chí Thành: Hiện nay Viện NLNTVN đang có trao đổi tích cực và hợp tác với 2 đơn vị chủ đầu tư Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2 là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN).
Với EVN - đơn vị truyền thống hợp tác với Viện NLNTVN trong giai đoạn trước (2010-2016), Viện gặp và trao đổi với Ban QLDA ĐHN của EVN về các nhiệm vụ sắp tới triển khai liên quan Ninh Thuận 1, bao gồm đánh giá địa điểm, nghiên cứu công nghệ, thiết kế của ROSATOM (VVER1200), sẽ cùng nhau nghiên cứu đánh giá an toàn của thiết kế này. Viện sẵn sàng cử cán bộ và chuyên gia cùng làm việc với EVN (Ban QLDA) về các nhiệm vụ liên quan. Viện đang nỗ lực tìm kiếm khả năng đào tạo nhân lực đánh giá thẩm định an toàn liên quan đến công nghệ/thiết kế của Nga.
Vấn đề hiện nay ở chỗ, các cán bộ nghiên cứu Việt Nam chưa được tiếp cận với các Codes tính toán, phân tích an toàn, mô phỏng sự cố của Liên bang Nga (từ trước đến nay chủ yếu tiếp cận và sử dụng Codes của phương Tây). Nhiệm vụ này không những liên quan đến dự án Ninh Thuận 1, mà còn liên quan đến dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Công nghệ hạt nhân (CNST) với lò hạt nhân nghiên cứu mới (10-15 MWt) hợp tác với ROSATOM.
Với PVN, Viện đã triển khai một số hợp tác để giới thiệu về ngành hạt nhân và khoá đào tạo cơ bản về hạt nhân. Sắp tới, Viện và PVN sẽ cùng nhau hợp tác triển khai các khóa đào tạo mới chuyên sâu hơn, cũng như tư vấn về công nghệ/thiết kế ĐHN và đánh giá an toàn ĐHN. Một số nhiệm vụ sẽ rõ hơn sau khi PVN xác định đối tác hợp tác triển khai Ninh Thuận 2. Một số nhiệm vụ khác như nghiên cứu về xử lý, quản lý chất thải phóng xạ, chương trình nội địa hóa thiết bị hạt nhân.. cũng đang được trao đổi và hy vọng sẽ triển khai trong thời gian tới.
Viện NLNTVN cũng mời PVN tham gia hỗ trợ, tư vấn, triển khai dự án CNST tại Đồng Nai. Việc tham gia cùng Viện trong triển khai dự án này sẽ giúp PVN có thêm nhiều kinh nghiệm triển khai dự án hạt nhân.
Quốc hội và Chính phủ chủ trương cho phép tư nhân tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô nhỏ SMR. Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam có định hướng gì về phát triển SMR ở Việt Nam? Và nếu có đề nghị từ doanh nghiệp, thì Viện có thể hỗ trợ họ như thế nào, thưa ông?
TS. Trần Chí Thành: SMR là xu hướng công nghệ có nhiều triển vọng trong tương lai của ngành ĐHN thế giới. Viện NLNTVN trong những năm gần đây cũng đã có định hướng và nghiên cứu về SMR, trên cơ sở hợp tác với IAEA và một số nước có thiết kế SMR.
Hiện nay, Viện NLNTVN đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện kế hoạch để triển khai nhiệm vụ, đề án liên quan đến SMR. Tuy nhiên, cần chú ý rằng, SMR là công nghệ mới nhiều triển vọng, nhưng chưa được kiểm chứng và thương mại hóa trên thế giới. Các nước đi đầu về SMR hiện nay đều là những nước có ngành ĐHN phát triển (đã phát triển ĐHN ở quy mô công nghiệp, với các lò công suất lớn). Đối với các nước này, để phát triển một thiết kế và có thể đưa ra triển khai công nghiệp, họ cũng đã đầu tư đáng kể với thời gian 10-15 năm.
Về quá trình triển khai có thể tóm tắt như sau:
Giai đoạn 1: Cần xây dựng kế hoạch phát triển SMR đúng đắn dựa trên kinh nghiệm quốc tế, năng lực nội tại và hợp tác quốc tế. Tiếp theo là cần đưa ra thiết kế của Việt Nam, có tính đến nhiều yếu tố liên quan như bảo đảm an toàn, tính khả thi, hiệu quả, chu trình nhiên liệu, xử lý chất thải v.v... Tiếp theo là hoàn thiện thiết kế, đưa ra thiết kế cơ sở và thực hiện tính toán phân tích an toàn, xin cấp phép của cơ quan pháp quy hạt nhân, cũng như chứng chỉ đánh giá an toàn của IAEA (đáp ứng các quy định chung về an toàn).
Giai đoạn 2: Triển khai thực tế. Việc triển khai thực tế cần có sự đồng hành của doanh nghiệp (Nhà nước, tư nhân), trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính an toàn, kinh tế và khả năng triển khai, năng lực chế tạo thiết bị trong nước v.v... Rất nhiều nhiệm vụ đặt ra, nhiều thách thức để có thể thực hiện thành công phát triển SMR tại Việt Nam.
Trong trường hợp nhập khẩu công nghệ SMR từ đối tác, nhiệm vụ triển khai sẽ khác so với trên. Và phụ thuộc nhiều vào đối tác của chúng ta. Việt Nam có thể cùng đối tác triển khai SMR hiệu quả tại Việt Nam, cũng như từng bước tham gia vào chuỗi cung cấp thiết bị cho SMR (bắt đầu từ thiết bị phụ trợ).
Nếu có đề nghị hợp tác từ doanh nghiệp, Viện sẵn sàng hợp tác. Tuy nhiên, mọi việc sẽ bắt đầu từ nghiên cứu công nghệ, thiết kế, phân tích và đánh giá an toàn. Sau đó là khả năng triển khai thực tế dựa trên năng lực về triển khai dự án hạt nhân, quản lý dự án, sản xuất thiết bị, chế tạo công nghiệp... của Việt Nam.
Hiện nay, có nhiều chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài có nguyện vọng tham gia phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Theo ông, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam có kế hoạch mời họ tham gia cùng thực hiện các nhiệm vụ của Viện liên quan đến điện hạt nhân hay không? Thuận lợi và khó khăn của việc đó là gì?
TS. Trần Chí Thành: Như ở trên đã trao đổi, nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ đầu đàn, hiểu sâu chuyên môn là rất quan trọng để Việt Nam triển khai thành công chương trình ĐHN (Vietnam Nuclear Power Program - VNPP). Viện NLNTVN luôn luôn có mong muốn thu hút tuyển dụng được đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn về làm việc, hoặc đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực về đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực ĐHN (đào tạo đội ngũ cán bộ đầu đàn). Tuy nhiên, việc triển khai tuỳ thuộc vào cơ chế của Nhà nước cho phép và nguồn kinh phí để thu hút, giữ đội ngũ cán bộ giỏi ở lại nghiên cứu. Cho đến thời điểm hiện nay thì Viện NLNTVN cũng chưa có kế hoạch cụ thể việc mời chuyên gia, cán bộ nghiên cứu giỏi tham gia các nhiệm vụ của Viện. Với một số nhiệm vụ nhỏ đang được triển khai (trong khuôn khổ cơ chế cho phép), Viện vẫn mời và hợp tác với một số cán bộ chuyên môn giỏi của các đơn vị khác trong nước. Việc mời cán bộ chuyên gia nước ngoài về làm việc cần kinh phí lớn, và cũng tùy thuộc vào nhiệm vụ gì đang được triển khai thực hiện. Chúng ta cũng chỉ mới bắt đầu triển khai chương trình phát triển ĐHN.
Có thể thấy rằng, đối với Viện NLNTVN - một đơn vị sự nghiệp khoa học, việc thu hút cán bộ, mời cán bộ chuyên môn giỏi về làm việc… đang khó khăn do thiếu cơ chế thu hút, cơ chế, quy định tài chính hiện hành chưa cho phép, cũng như nguồn kinh phí hiện nay đang hạn hẹp và lương thấp. Bản thân tôi cũng rất khó khăn để giữ đội ngũ cán bộ giỏi khi một số đơn vị khác mời và thu hút tuyển dụng cán bộ bằng việc trả lương cao.
Tôi cũng hy vọng, sắp tới các khó khăn này sẽ được sớm giải quyết để thúc đẩy khoa học - công nghệ, theo đúng tinh thần định hướng của Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Vâng, xin cảm ơn Viện trưởng./.
BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Vấn đề hiện nay ở chỗ, các cán bộ nghiên cứu Việt Nam chưa được tiếp cận với các Codes tính toán, phân tích an toàn, mô phỏng sự cố của Liên bang Nga (từ trước đến nay chủ yếu tiếp cận và sử dụng Codes của phương Tây). Nhiệm vụ này không những liên quan đến dự án Ninh Thuận 1, mà còn liên quan đến dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Công nghệ hạt nhân (CNST) với lò hạt nhân nghiên cứu mới (10-15 MWt) hợp tác với ROSATOM.
Em đọc đoạn này thấy cứ lấn cấn
Bước tiến mới trong dự án điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam
Rốt cục ngày này cũng đã đến, mong cho nhà máy ĐHN số 1 về đích sớm theo kế hoạch
https://nhandan.vn/viet-nam-va-lien-bang-nga-hop-tac-xay-dung-nha-may-dien-hat-nhan-post950422.html
2034-2035 mới xong, cũng khá lâu các cụ nhỉ.








