@a98 @hatam @elevonic @ktqsminh @ngo-rung @uman
MUỐN THOÁT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH ?
(Tôi biết bài này chắc chắn sẽ có rất nhiều người phản đối)Người ta nói muốn đi nhanh thì phải đi một mình, muốn đi xa thì phải đi cùng nhau. Nhưng với một quốc gia đông dân cần công nghiệp hóa cấp tốc, câu đúng phải là: “Muốn đi xa thì chọn đúng người để đi cùng.” Và trong thế kỷ XXI, nếu Việt Nam thật sự muốn trở thành quốc gia công nghiệp, muốn có tập đoàn công nghiệp toàn cầu, muốn dân có thu nhập cao, muốn bước vào nhóm nước 15.000–20.000 USD/người, thì có một chân lý không thể né tránh:
Muốn thoát bẫy thu nhập trung bình – cách duy nhất là mở cửa kinh tế hoàn toàn với Trung Quốc Đại Lục.Và khi nhìn lại bản đồ công nghiệp toàn cầu, cái sự thật trần trụi và đau đớn nhất hiện ra: chỉ có một quốc gia duy nhất còn giữ đủ bốn tầng công nghiệp – từ luyện kim, hóa chất, cơ khí nặng, thiết bị công nghiệp, đến bán dẫn, robot, năng lượng mới, hàng tiêu dùng công nghệ cao – và quốc gia đó nằm ngay cạnh Việt Nam: Trung Quốc Đại Lục. Không phải Mỹ, không phải Nhật, không phải Đức. Trung Quốc là quốc gia duy nhất có thể cung cấp trọn bộ “DNA công nghiệp hiện đại” cho một nền kinh tế mới nổi có quy mô dân số lớn như Việt Nam. Những người không thích Trung Quốc có thể không vui khi nghe điều này, nhưng kinh tế không quan tâm đến cảm xúc, chính trị không quan tâm đến tự ái, và công nghiệp thì càng không quan tâm đến “lòng tự trọng dân tộc” kiểu mạng xã hội. Công nghiệp chỉ quan tâm một thứ: chuỗi giá trị. Ai nắm chuỗi giá trị thì kẻ đó quyết định tương lai của quốc gia đi theo.
Tất cả họ đều đi theo quy luật giống nhau: mở cửa công nghệ, hấp thụ công nghiệp, tiếp nhận chuyển giao, rồi lớn lên thành đế chế của chính mình. Không có quốc gia 100 triệu dân nào trong lịch sử thoát được bẫy thu nhập trung bình chỉ bằng FDI lắp ráp từ phương Tây. FDI phương Tây chỉ mang đến dây chuyền lắp ráp, không bao giờ mang theo thiết kế lõi, công nghệ nền tảng, vật liệu, thiết bị công nghiệp, và càng không bao giờ mang theo tiêu chuẩn để anh tự sản xuất mà không cần họ.
Trong khi đó, Trung Quốc đang sở hữu dư thừa công suất công nghiệp ở gần như mọi ngành mà Việt Nam đang thiếu: pin – xe điện – động cơ – máy công cụ – thiết bị công nghiệp – vật liệu – hóa chất cơ bản – chip trung bình – robot – máy nén – máy biến áp – thiết bị năng lượng – cảm biến MEMS – thiết bị đo lường – công nghệ sản xuất thông minh. Trung Quốc thừa đến mức phải đẩy mạnh xuất khẩu công nghiệp sang Ả Rập, Phi, Nam Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, thậm chí Mexico. Vậy mà Việt Nam – quốc gia ngay sát nách – lại chưa thực sự mở cửa khoa học kỹ thuật với họ ở cấp độ “toàn diện – không rào cản – không sợ hãi – không định kiến”. Nếu chúng ta không nắm lấy cơ hội này, sẽ có quốc gia khác nắm trước, và lúc đó Việt Nam lại tiếp tục đứng ngoài cuộc chơi công nghiệp hóa của thế kỷ XXI.
Những ai tin rằng Nhật–Hàn–EU có thể giúp Việt Nam nhảy cóc thì nên nhìn thẳng vào thực tại: Nhật không còn muốn mở rộng sản xuất, Hàn đã kiệt quệ về dân số, châu Âu đang suy giảm năng lực công nghiệp nặng, và Mỹ thì chỉ muốn kéo chuỗi cung ứng về mình chứ không muốn tạo ra đối thủ mới. Không ai trong số họ muốn Việt Nam trở thành nước công nghiệp mạnh. Còn Trung Quốc – vì lý do kinh tế lẫn chiến lược – lại cần một Việt Nam công nghiệp hóa để mở rộng ảnh hưởng, chia sẻ công suất, và hình thành chuỗi cung ứng mới tại Đông Nam Á nhằm giảm áp lực thương mại với Mỹ–EU. Đây là lần đầu tiên trong 2000 năm lịch sử mà lợi ích công nghiệp của Việt Nam và Trung Quốc có sự trùng khít lớn đến vậy. Và nếu không tận dụng được khoảnh khắc này, ta sẽ mất thêm 20–30 năm nữa.
Một khi Việt Nam mở cửa toàn diện về công nghệ với Trung Quốc, tình hình sẽ thay đổi nhanh chóng: ta có thể trở thành trung tâm sản xuất pin – xe điện – thiết bị công nghiệp của ASEAN; trở thành nơi đặt nhà máy máy công cụ tầm trung; có thể sở hữu chip công nghiệp 40–90 nm; có thể tự sản xuất robot công nghiệp phân khúc trung; có thể xuất khẩu thiết bị cơ khí sang Nam Á và Phi; có thể trở thành vệ tinh xuất khẩu của trên 100.000 doanh nghiệp Trung Quốc đang bán hàng toàn cầu. Đó không chỉ là “cơ hội” mà là điểm xoay chiến lược. Cơ hội như thế này không xuất hiện hai lần.
Câu hỏi duy nhất là: Việt Nam có đủ tự tin để mở cửa hoàn toàn với Trung Quốc về khoa học kỹ thuật hay không? Nếu ta tiếp tục sợ hãi, tiếp tục mang tâm lý bài Trung cảm tính, tiếp tục tin vào những ảo tưởng phương Tây rằng “Việt Nam sẽ trở thành công xưởng mới thay Trung Quốc”, thì ta chỉ đang tự lừa mình. Trung Quốc công nghiệp hóa 40 năm, Việt Nam mới đi được 10 năm, quy mô công nghiệp của họ lớn gấp 30 lần ta. Nghĩ rằng Việt Nam có thể “thay thế” Trung Quốc là điều vô lý nhất từng được phát ngôn trên mạng xã hội. Cách duy nhất đúng là đi theo chuỗi giá trị của họ, tận dụng năng lực sản xuất của họ, học công nghệ của họ, rồi lớn lên thành chính mình.
Muốn thoát bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam không cần khẩu hiệu, không cần phong trào, không cần những lời hô hào “tự lực – tự cường” rỗng tuếch; Việt Nam cần chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu. Mà chuỗi giá trị đó, trong thời điểm lịch sử hiện tại, chỉ có thể đi qua Trung Quốc. Chúng ta không phải chọn Trung Quốc vì chính trị, không phải chọn Trung Quốc vì yêu thích, mà phải chọn Trung Quốc vì đó là lựa chọn duy nhất còn lại trên bàn cờ phát triển. Không chọn cũng là một lựa chọn – nhưng đó là lựa chọn chấp nhận ở lại mãi mãi trong bẫy thu nhập trung bình.
Thực tế thì luôn phũ phàng!
Các bạn có tin là các doanh nghiệp Việt như Vin, Thaco đều đã được Trung Quốc đồng ý bán công nghệ đường sắt cao tốc về để Việt hóa không? Không có Trung Quốc nhận hỗ trợ thì không một doanh nghiệp Việt nào dám mở mồm đòi làm Tổng thầu cả đâu.(Lý Thanh Hà)
Bác bê bài này về bên kia post các anh tài bên đó sẽ cho bác cái hộ chiếu Trung Quốc ngay và luôn.
có hộ chiếu Trung Quốc còn sướng hơn hộ chiếu Mỹ, Mỹ giờ khá nghèo rồi@a98 @hatam @elevonic @ktqsminh @ngo-rung @uman
MUỐN THOÁT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH ?
(Tôi biết bài này chắc chắn sẽ có rất nhiều người phản đối)Người ta nói muốn đi nhanh thì phải đi một mình, muốn đi xa thì phải đi cùng nhau. Nhưng với một quốc gia đông dân cần công nghiệp hóa cấp tốc, câu đúng phải là: “Muốn đi xa thì chọn đúng người để đi cùng.” Và trong thế kỷ XXI, nếu Việt Nam thật sự muốn trở thành quốc gia công nghiệp, muốn có tập đoàn công nghiệp toàn cầu, muốn dân có thu nhập cao, muốn bước vào nhóm nước 15.000–20.000 USD/người, thì có một chân lý không thể né tránh:
Muốn thoát bẫy thu nhập trung bình – cách duy nhất là mở cửa kinh tế hoàn toàn với Trung Quốc Đại Lục.Và khi nhìn lại bản đồ công nghiệp toàn cầu, cái sự thật trần trụi và đau đớn nhất hiện ra: chỉ có một quốc gia duy nhất còn giữ đủ bốn tầng công nghiệp – từ luyện kim, hóa chất, cơ khí nặng, thiết bị công nghiệp, đến bán dẫn, robot, năng lượng mới, hàng tiêu dùng công nghệ cao – và quốc gia đó nằm ngay cạnh Việt Nam: Trung Quốc Đại Lục. Không phải Mỹ, không phải Nhật, không phải Đức. Trung Quốc là quốc gia duy nhất có thể cung cấp trọn bộ “DNA công nghiệp hiện đại” cho một nền kinh tế mới nổi có quy mô dân số lớn như Việt Nam. Những người không thích Trung Quốc có thể không vui khi nghe điều này, nhưng kinh tế không quan tâm đến cảm xúc, chính trị không quan tâm đến tự ái, và công nghiệp thì càng không quan tâm đến “lòng tự trọng dân tộc” kiểu mạng xã hội. Công nghiệp chỉ quan tâm một thứ: chuỗi giá trị. Ai nắm chuỗi giá trị thì kẻ đó quyết định tương lai của quốc gia đi theo.
Tất cả họ đều đi theo quy luật giống nhau: mở cửa công nghệ, hấp thụ công nghiệp, tiếp nhận chuyển giao, rồi lớn lên thành đế chế của chính mình. Không có quốc gia 100 triệu dân nào trong lịch sử thoát được bẫy thu nhập trung bình chỉ bằng FDI lắp ráp từ phương Tây. FDI phương Tây chỉ mang đến dây chuyền lắp ráp, không bao giờ mang theo thiết kế lõi, công nghệ nền tảng, vật liệu, thiết bị công nghiệp, và càng không bao giờ mang theo tiêu chuẩn để anh tự sản xuất mà không cần họ.
Trong khi đó, Trung Quốc đang sở hữu dư thừa công suất công nghiệp ở gần như mọi ngành mà Việt Nam đang thiếu: pin – xe điện – động cơ – máy công cụ – thiết bị công nghiệp – vật liệu – hóa chất cơ bản – chip trung bình – robot – máy nén – máy biến áp – thiết bị năng lượng – cảm biến MEMS – thiết bị đo lường – công nghệ sản xuất thông minh. Trung Quốc thừa đến mức phải đẩy mạnh xuất khẩu công nghiệp sang Ả Rập, Phi, Nam Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, thậm chí Mexico. Vậy mà Việt Nam – quốc gia ngay sát nách – lại chưa thực sự mở cửa khoa học kỹ thuật với họ ở cấp độ “toàn diện – không rào cản – không sợ hãi – không định kiến”. Nếu chúng ta không nắm lấy cơ hội này, sẽ có quốc gia khác nắm trước, và lúc đó Việt Nam lại tiếp tục đứng ngoài cuộc chơi công nghiệp hóa của thế kỷ XXI.
Những ai tin rằng Nhật–Hàn–EU có thể giúp Việt Nam nhảy cóc thì nên nhìn thẳng vào thực tại: Nhật không còn muốn mở rộng sản xuất, Hàn đã kiệt quệ về dân số, châu Âu đang suy giảm năng lực công nghiệp nặng, và Mỹ thì chỉ muốn kéo chuỗi cung ứng về mình chứ không muốn tạo ra đối thủ mới. Không ai trong số họ muốn Việt Nam trở thành nước công nghiệp mạnh. Còn Trung Quốc – vì lý do kinh tế lẫn chiến lược – lại cần một Việt Nam công nghiệp hóa để mở rộng ảnh hưởng, chia sẻ công suất, và hình thành chuỗi cung ứng mới tại Đông Nam Á nhằm giảm áp lực thương mại với Mỹ–EU. Đây là lần đầu tiên trong 2000 năm lịch sử mà lợi ích công nghiệp của Việt Nam và Trung Quốc có sự trùng khít lớn đến vậy. Và nếu không tận dụng được khoảnh khắc này, ta sẽ mất thêm 20–30 năm nữa.
Một khi Việt Nam mở cửa toàn diện về công nghệ với Trung Quốc, tình hình sẽ thay đổi nhanh chóng: ta có thể trở thành trung tâm sản xuất pin – xe điện – thiết bị công nghiệp của ASEAN; trở thành nơi đặt nhà máy máy công cụ tầm trung; có thể sở hữu chip công nghiệp 40–90 nm; có thể tự sản xuất robot công nghiệp phân khúc trung; có thể xuất khẩu thiết bị cơ khí sang Nam Á và Phi; có thể trở thành vệ tinh xuất khẩu của trên 100.000 doanh nghiệp Trung Quốc đang bán hàng toàn cầu. Đó không chỉ là “cơ hội” mà là điểm xoay chiến lược. Cơ hội như thế này không xuất hiện hai lần.
Câu hỏi duy nhất là: Việt Nam có đủ tự tin để mở cửa hoàn toàn với Trung Quốc về khoa học kỹ thuật hay không? Nếu ta tiếp tục sợ hãi, tiếp tục mang tâm lý bài Trung cảm tính, tiếp tục tin vào những ảo tưởng phương Tây rằng “Việt Nam sẽ trở thành công xưởng mới thay Trung Quốc”, thì ta chỉ đang tự lừa mình. Trung Quốc công nghiệp hóa 40 năm, Việt Nam mới đi được 10 năm, quy mô công nghiệp của họ lớn gấp 30 lần ta. Nghĩ rằng Việt Nam có thể “thay thế” Trung Quốc là điều vô lý nhất từng được phát ngôn trên mạng xã hội. Cách duy nhất đúng là đi theo chuỗi giá trị của họ, tận dụng năng lực sản xuất của họ, học công nghệ của họ, rồi lớn lên thành chính mình.
Muốn thoát bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam không cần khẩu hiệu, không cần phong trào, không cần những lời hô hào “tự lực – tự cường” rỗng tuếch; Việt Nam cần chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu. Mà chuỗi giá trị đó, trong thời điểm lịch sử hiện tại, chỉ có thể đi qua Trung Quốc. Chúng ta không phải chọn Trung Quốc vì chính trị, không phải chọn Trung Quốc vì yêu thích, mà phải chọn Trung Quốc vì đó là lựa chọn duy nhất còn lại trên bàn cờ phát triển. Không chọn cũng là một lựa chọn – nhưng đó là lựa chọn chấp nhận ở lại mãi mãi trong bẫy thu nhập trung bình.
Thực tế thì luôn phũ phàng!
Các bạn có tin là các doanh nghiệp Việt như Vin, Thaco đều đã được Trung Quốc đồng ý bán công nghệ đường sắt cao tốc về để Việt hóa không? Không có Trung Quốc nhận hỗ trợ thì không một doanh nghiệp Việt nào dám mở mồm đòi làm Tổng thầu cả đâu.(Lý Thanh Hà)
Bác bê bài này về bên kia post các anh tài bên đó sẽ cho bác cái hộ chiếu Trung Quốc ngay và luôn.
thành viên bên diễn đàn này ít ỏi hơn thành viên của bên kia cho nên đa số thắng thiểu số nhé, kẻ đông thì có chủ quyền hơn kẻ yếu.@a98 @hatam @elevonic @ktqsminh @ngo-rung @uman
MUỐN THOÁT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH ?
(Tôi biết bài này chắc chắn sẽ có rất nhiều người phản đối)Người ta nói muốn đi nhanh thì phải đi một mình, muốn đi xa thì phải đi cùng nhau. Nhưng với một quốc gia đông dân cần công nghiệp hóa cấp tốc, câu đúng phải là: “Muốn đi xa thì chọn đúng người để đi cùng.” Và trong thế kỷ XXI, nếu Việt Nam thật sự muốn trở thành quốc gia công nghiệp, muốn có tập đoàn công nghiệp toàn cầu, muốn dân có thu nhập cao, muốn bước vào nhóm nước 15.000–20.000 USD/người, thì có một chân lý không thể né tránh:
Muốn thoát bẫy thu nhập trung bình – cách duy nhất là mở cửa kinh tế hoàn toàn với Trung Quốc Đại Lục.Và khi nhìn lại bản đồ công nghiệp toàn cầu, cái sự thật trần trụi và đau đớn nhất hiện ra: chỉ có một quốc gia duy nhất còn giữ đủ bốn tầng công nghiệp – từ luyện kim, hóa chất, cơ khí nặng, thiết bị công nghiệp, đến bán dẫn, robot, năng lượng mới, hàng tiêu dùng công nghệ cao – và quốc gia đó nằm ngay cạnh Việt Nam: Trung Quốc Đại Lục. Không phải Mỹ, không phải Nhật, không phải Đức. Trung Quốc là quốc gia duy nhất có thể cung cấp trọn bộ “DNA công nghiệp hiện đại” cho một nền kinh tế mới nổi có quy mô dân số lớn như Việt Nam. Những người không thích Trung Quốc có thể không vui khi nghe điều này, nhưng kinh tế không quan tâm đến cảm xúc, chính trị không quan tâm đến tự ái, và công nghiệp thì càng không quan tâm đến “lòng tự trọng dân tộc” kiểu mạng xã hội. Công nghiệp chỉ quan tâm một thứ: chuỗi giá trị. Ai nắm chuỗi giá trị thì kẻ đó quyết định tương lai của quốc gia đi theo.
Tất cả họ đều đi theo quy luật giống nhau: mở cửa công nghệ, hấp thụ công nghiệp, tiếp nhận chuyển giao, rồi lớn lên thành đế chế của chính mình. Không có quốc gia 100 triệu dân nào trong lịch sử thoát được bẫy thu nhập trung bình chỉ bằng FDI lắp ráp từ phương Tây. FDI phương Tây chỉ mang đến dây chuyền lắp ráp, không bao giờ mang theo thiết kế lõi, công nghệ nền tảng, vật liệu, thiết bị công nghiệp, và càng không bao giờ mang theo tiêu chuẩn để anh tự sản xuất mà không cần họ.
Trong khi đó, Trung Quốc đang sở hữu dư thừa công suất công nghiệp ở gần như mọi ngành mà Việt Nam đang thiếu: pin – xe điện – động cơ – máy công cụ – thiết bị công nghiệp – vật liệu – hóa chất cơ bản – chip trung bình – robot – máy nén – máy biến áp – thiết bị năng lượng – cảm biến MEMS – thiết bị đo lường – công nghệ sản xuất thông minh. Trung Quốc thừa đến mức phải đẩy mạnh xuất khẩu công nghiệp sang Ả Rập, Phi, Nam Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, thậm chí Mexico. Vậy mà Việt Nam – quốc gia ngay sát nách – lại chưa thực sự mở cửa khoa học kỹ thuật với họ ở cấp độ “toàn diện – không rào cản – không sợ hãi – không định kiến”. Nếu chúng ta không nắm lấy cơ hội này, sẽ có quốc gia khác nắm trước, và lúc đó Việt Nam lại tiếp tục đứng ngoài cuộc chơi công nghiệp hóa của thế kỷ XXI.
Những ai tin rằng Nhật–Hàn–EU có thể giúp Việt Nam nhảy cóc thì nên nhìn thẳng vào thực tại: Nhật không còn muốn mở rộng sản xuất, Hàn đã kiệt quệ về dân số, châu Âu đang suy giảm năng lực công nghiệp nặng, và Mỹ thì chỉ muốn kéo chuỗi cung ứng về mình chứ không muốn tạo ra đối thủ mới. Không ai trong số họ muốn Việt Nam trở thành nước công nghiệp mạnh. Còn Trung Quốc – vì lý do kinh tế lẫn chiến lược – lại cần một Việt Nam công nghiệp hóa để mở rộng ảnh hưởng, chia sẻ công suất, và hình thành chuỗi cung ứng mới tại Đông Nam Á nhằm giảm áp lực thương mại với Mỹ–EU. Đây là lần đầu tiên trong 2000 năm lịch sử mà lợi ích công nghiệp của Việt Nam và Trung Quốc có sự trùng khít lớn đến vậy. Và nếu không tận dụng được khoảnh khắc này, ta sẽ mất thêm 20–30 năm nữa.
Một khi Việt Nam mở cửa toàn diện về công nghệ với Trung Quốc, tình hình sẽ thay đổi nhanh chóng: ta có thể trở thành trung tâm sản xuất pin – xe điện – thiết bị công nghiệp của ASEAN; trở thành nơi đặt nhà máy máy công cụ tầm trung; có thể sở hữu chip công nghiệp 40–90 nm; có thể tự sản xuất robot công nghiệp phân khúc trung; có thể xuất khẩu thiết bị cơ khí sang Nam Á và Phi; có thể trở thành vệ tinh xuất khẩu của trên 100.000 doanh nghiệp Trung Quốc đang bán hàng toàn cầu. Đó không chỉ là “cơ hội” mà là điểm xoay chiến lược. Cơ hội như thế này không xuất hiện hai lần.
Câu hỏi duy nhất là: Việt Nam có đủ tự tin để mở cửa hoàn toàn với Trung Quốc về khoa học kỹ thuật hay không? Nếu ta tiếp tục sợ hãi, tiếp tục mang tâm lý bài Trung cảm tính, tiếp tục tin vào những ảo tưởng phương Tây rằng “Việt Nam sẽ trở thành công xưởng mới thay Trung Quốc”, thì ta chỉ đang tự lừa mình. Trung Quốc công nghiệp hóa 40 năm, Việt Nam mới đi được 10 năm, quy mô công nghiệp của họ lớn gấp 30 lần ta. Nghĩ rằng Việt Nam có thể “thay thế” Trung Quốc là điều vô lý nhất từng được phát ngôn trên mạng xã hội. Cách duy nhất đúng là đi theo chuỗi giá trị của họ, tận dụng năng lực sản xuất của họ, học công nghệ của họ, rồi lớn lên thành chính mình.
Muốn thoát bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam không cần khẩu hiệu, không cần phong trào, không cần những lời hô hào “tự lực – tự cường” rỗng tuếch; Việt Nam cần chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu. Mà chuỗi giá trị đó, trong thời điểm lịch sử hiện tại, chỉ có thể đi qua Trung Quốc. Chúng ta không phải chọn Trung Quốc vì chính trị, không phải chọn Trung Quốc vì yêu thích, mà phải chọn Trung Quốc vì đó là lựa chọn duy nhất còn lại trên bàn cờ phát triển. Không chọn cũng là một lựa chọn – nhưng đó là lựa chọn chấp nhận ở lại mãi mãi trong bẫy thu nhập trung bình.
Thực tế thì luôn phũ phàng!
Các bạn có tin là các doanh nghiệp Việt như Vin, Thaco đều đã được Trung Quốc đồng ý bán công nghệ đường sắt cao tốc về để Việt hóa không? Không có Trung Quốc nhận hỗ trợ thì không một doanh nghiệp Việt nào dám mở mồm đòi làm Tổng thầu cả đâu.(Lý Thanh Hà)
Bác bê bài này về bên kia post các anh tài bên đó sẽ cho bác cái hộ chiếu Trung Quốc ngay và luôn.
@a98 @meotamthe @hatam @ktqsminh @ngo-rung
NẾU TRÌNH BẠN ĐỦ CAO?
“Sao chép” hay “học” – khác nhau ở chỗ nào?
Thật ra có một điều rất buồn cười: nhiều bạn luôn miệng chê Trung Quốc “copy”, “bắt chước”, “làm hàng nhái”, nhưng lại quên mất một chân lý cơ bản nhất mà ai từng đi học đều phải thừa nhận—học chính là một dạng sao chép có hệ thống.
Tôi hỏi thật: các bạn có đi học không?
Đi học là gì?
Là ngồi chép lại kiến thức của người đi trước, từ công thức, phương pháp, đến cách tư duy. Người ta mất 50 năm lăn lộn trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy mới đúc rút được vài dòng. Bạn lên lớp chép đúng vài phút. Vậy mà tới khi ra đời lại chê người khác “copy”.
Thực tế sản xuất còn khắc nghiệt hơn. Ở trường chỉ cần hiểu là đủ, chép xong bài là xong. Nhưng trong nhà máy, từng chi tiết phải làm được thật, phải “copy” đến mức máy chạy được, sản phẩm bán được, thậm chí chạy ổn định hơn bản gốc. Ở đó không có “điểm 10 tự luận”, chỉ có hàng đạt hoặc hàng hỏng. Sao chép trong công nghiệp không chỉ là học, mà là học đến nơi đến chốn, học cho ra sản phẩm, học bằng máy CNC, bằng vật liệu, bằng thử nghiệm, bằng tiền túi và đôi khi cả máu thật.
Và xin lưu ý: cả thế giới này đi lên nhờ sao chép. Nhật từng sao chép Mỹ và Đức. Hàn Quốc sao chép Nhật. Đài Loan sao chép cả Nhật lẫn Mỹ. Và tất cả cuối cùng đều vượt lên nhờ làm tốt hơn người mà họ sao chép.
Thế còn Việt Nam?
Chúng ta có sao chép không? Có. Nhưng không đủ sâu, không đủ dài hơi, và đặc biệt không đủ độ lì để sao chép tới mức thành chủ công nghệ.
- Sao chép mà đẻ được sản phẩm thì gọi là học hỏi.
- Sao chép mà nâng cấp thành tốt hơn thì gọi là sáng tạo.
- Còn không chịu học, không chịu sao chép, mà chỉ ngồi phán thì gọi là… ảo tưởng kỹ nghệ.
Nên câu chuyện không phải là “copy hay không copy”.
Câu hỏi đúng là: copy xong bạn có làm cho nó chạy được không, và có dám làm tới mức vượt bản gốc không?
Tôi nói thẳng là nhiều đứa tư vấn thiết kế (thầy vẽ thuê) còn vẽ bản vẽ không xong thì làm sao mà đủ trình sao chép?
(Lý Thanh Hà)
@a98 @meotamthe @hatam @ktqsminh @ngo-rung
NẾU TRÌNH BẠN ĐỦ CAO?
“Sao chép” hay “học” – khác nhau ở chỗ nào?
Thật ra có một điều rất buồn cười: nhiều bạn luôn miệng chê Trung Quốc “copy”, “bắt chước”, “làm hàng nhái”, nhưng lại quên mất một chân lý cơ bản nhất mà ai từng đi học đều phải thừa nhận—học chính là một dạng sao chép có hệ thống.
Tôi hỏi thật: các bạn có đi học không?Đi học là gì?
Là ngồi chép lại kiến thức của người đi trước, từ công thức, phương pháp, đến cách tư duy. Người ta mất 50 năm lăn lộn trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy mới đúc rút được vài dòng. Bạn lên lớp chép đúng vài phút. Vậy mà tới khi ra đời lại chê người khác “copy”.
Thực tế sản xuất còn khắc nghiệt hơn. Ở trường chỉ cần hiểu là đủ, chép xong bài là xong. Nhưng trong nhà máy, từng chi tiết phải làm được thật, phải “copy” đến mức máy chạy được, sản phẩm bán được, thậm chí chạy ổn định hơn bản gốc. Ở đó không có “điểm 10 tự luận”, chỉ có hàng đạt hoặc hàng hỏng. Sao chép trong công nghiệp không chỉ là học, mà là học đến nơi đến chốn, học cho ra sản phẩm, học bằng máy CNC, bằng vật liệu, bằng thử nghiệm, bằng tiền túi và đôi khi cả máu thật.
Và xin lưu ý: cả thế giới này đi lên nhờ sao chép. Nhật từng sao chép Mỹ và Đức. Hàn Quốc sao chép Nhật. Đài Loan sao chép cả Nhật lẫn Mỹ. Và tất cả cuối cùng đều vượt lên nhờ làm tốt hơn người mà họ sao chép.Thế còn Việt Nam?
Chúng ta có sao chép không? Có. Nhưng không đủ sâu, không đủ dài hơi, và đặc biệt không đủ độ lì để sao chép tới mức thành chủ công nghệ.
- Sao chép mà đẻ được sản phẩm thì gọi là học hỏi.
- Sao chép mà nâng cấp thành tốt hơn thì gọi là sáng tạo.
- Còn không chịu học, không chịu sao chép, mà chỉ ngồi phán thì gọi là… ảo tưởng kỹ nghệ.
Nên câu chuyện không phải là “copy hay không copy”.
Câu hỏi đúng là: copy xong bạn có làm cho nó chạy được không, và có dám làm tới mức vượt bản gốc không?
Tôi nói thẳng là nhiều đứa tư vấn thiết kế (thầy vẽ thuê) còn vẽ bản vẽ không xong thì làm sao mà đủ trình sao chép?(Lý Thanh Hà)
@a98 @meotamthe @hatam @ktqsminh @ngo-rung
Bổ sung thêm chút cho bài của bác Lý Thanh Hà ở trên, không chỉ Hàn và Nhật như bài trên, Mỹ trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa cũng học và copy rất nhiều từ châu Âu, đặc biệt là Anh và Đức. Đây là một phần quan trọng trong lịch sử phát triển công nghệ toàn cầu.
1. Thế kỷ 18-19: Mỹ vừa học hỏi vừa ăn cắp bí quyết, công nghệ dệt may, luyện kim, và máy móc từ Anh - quốc gia đi đầu trong Cách mạng Công nghiệp. Nhiều kỹ sư Mỹ sang Anh học, thậm chí có những trường hợp ăn cắp bản thiết kế để mang về Mỹ.
Thời cuối thế kỷ 18, Anh giữ độc quyền công nghệ dệt bông: khung cửi, khung kéo sợi, bố trí nhà máy… và cấm thợ lành nghề xuất cảnh, cấm mang bản vẽ máy ra khỏi nước để bảo vệ lợi thế.
Nhưng Mỹ đang rất cần công nghệ này, nên làm đúng nghĩa đen industrial espionage - gián điệp công nghiệp:
Một trong những ví dụ là Samuel Slater, một thợ dệt được đào tạo trong nhà máy Anh, đã học thuộc lòng thiết kế máy, sang Mỹ năm 1789, rồi dựng nhà máy dệt đầu tiên ở Rhode Island (1793). Ở Mỹ, ông được gọi là “Father of the American Industrial Revolution”, nhưng ở Anh bị chửi thẳng là Slater the Traitor - Slater kẻ phản bội.
Từ những copy ban đầu đó, đến 1815, vùng New England đã có hàng trăm nhà máy dệt, tạo nền tảng cho công nghiệp Mỹ.
Đế chế công nghiệp của Mỹ khởi nguồn từ việc lén copy công nghệ Anh. Mỹ học theo kiểu nhớ bản vẽ, về nhà tự chế, chứ không phải được Anh chuyển giao công nghệ ngon lành.
2. Mỹ copy/học từ Đức ngành hóa chất và dược và cơ khí
Mỹ đi từ lệ thuộc Đức đến tự chủ. Mỹ copy/học từ Đức về quy trình sản xuất hóa chất, thuốc nhuộm, và sau này là công nghệ ô tô.
- Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Đức là trung tâm nghiên cứu hóa học và kỹ thuật cơ khí cuối thế kỷ 19. Đức thống trị ngành thuốc nhuộm & hóa chất hữu cơ; có lúc chiếm khoảng một nửa sản lượng thuốc nhuộm thế giới, gần như toàn bộ các thuốc nhuộm mới đều do các hãng than đá - dye của Đức phát minh.
- Trước Thế chiến I, Mỹ phụ thuộc nặng vào thuốc nhuộm, hóa chất từ Đức, gần như không có ngành hóa chất hữu cơ nội địa đáng kể.
- Khi chiến tranh nổ ra, nguồn cung từ Đức bị cắt, Mỹ buộc phải dựng ngành hóa chất của riêng mình, và doanh nhân & kỹ sư Mỹ học thẳng theo mẫu Đức: xem công thức, quy trình, thiết bị, tổ chức R&D… rồi dựng lại trong nước.
Một lần nữa, mô hình là: copy sâu - nội địa hóa - rồi mới sáng tạo thêm.
3. Mỹ copy mô hình đại học và khoa học từ Đức
Thế kỷ 19, mô hình đại học - phòng thí nghiệm hiện đại là sản phẩm của Đức, với mô hình Humboldt: gắn nghiên cứu với giảng dạy, trường đại học là nơi tạo ra tri thức mới, sinh viên học qua làm nghiên cứu, chứ không chỉ nghe giảng.
Mỹ nhìn thấy và copy:
- Johns Hopkins University (1876) được thành lập rất rõ ràng là dựa trên mô hình của Humboldt, và đa số giáo sư thời đầu từng đi học/tu nghiệp ở Đức.
- Các kiến trúc sư của đại học nghiên cứu Mỹ thế kỷ 19 như Daniel Coit Gilman (Johns Hopkins), Charles Eliot (Harvard)… đều từng học ở Đức hoặc trực tiếp trích dẫn mô hình đại học Đức làm chuẩn.
Tóm lại: hệ thống đại học nghiên cứu “made in USA” thực chất là bản độ lại của mô hình Đức, sau đó Mỹ cải tiến, mở rộng và bây giờ quay lại thành chuẩn thế giới.
4. Ngành điện và viễn thông: Mỹ ban đầu dựa vào các phát minh châu Âu (ví dụ: động cơ điện, máy phát điện), sau đó cải tiến và thương mại hóa mạnh mẽ.
Năm 1882, Thomas Edison mở nhà máy điện Pearl Street Station ở New York - nhà máy điện trung tâm thương mại đầu tiên của Mỹ (và thường được coi là nhà máy điện trung tâm đầu tiên trên thế giới), dùng dynamo và công nghệ vốn đã có, nhưng đóng gói thành mô hình central station cung cấp điện cho hàng trăm khách hàng trong một khu phố.
George Westinghouse đi mua công nghệ châu Âu: ông mua quyền sử dụng máy biến áp của Gaulard & Gibbs và dùng máy phát Siemens, rồi giao cho William Stanley chỉnh sửa, tạo ra máy biến áp AC thực dụng đầu tiên và trình diễn cả một hệ thống AC ở Great Barrington năm 1886.
Nikola Tesla - kỹ sư gốc Balkan từng học/làm ở châu Âu - phát triển hệ thống đa pha AC và động cơ cảm ứng; năm 1888 Westinghouse mua trọn gói bằng sáng chế của Tesla và triển khai chúng trong các dự án lớn như nhà máy thủy điện Niagara Falls và hệ thống điện ở World’s Columbian Exposition 1893.
Tóm lại, lý thuyết - máy phát - biến áp gốc phần nhiều từ Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hungary…, còn Mỹ nổi lên khi biến chúng thành lưới điện thương mại, chuẩn hoá thiết bị, dựng cả ngành công nghiệp điện lực và mô hình kinh doanh điện lực đô thị.
Chỉ có lĩnh vực Viễn thông (điện báo, điện thoại), thì dù phát minh chính vẫn bắt đầu từ châu Âu, ví dụ
-Năm 1833, Gauss & Weber (Đức) dựng tuyến điện báo điện từ đầu tiên trên thế giới nối phòng thí nghiệm với đài quan sát ở Göttingen.
-Năm 1837, Cooke & Wheatstone (Anh) phát minh và đưa vào khai thác hệ điện báo kim chỉ – đây là hệ điện báo thương mại đầu tiên ở Anh.
nhưng Mỹ cũng có đóng góp. Nhưng cũng như Trung Quốc, chính Mỹ đã thành công trong việc triển khai xây dựng quy mô lớn phổ cập đại trà (scale up) & độc quyền hoá. Ví dụ, Theodore Vail tổ chức Bell/AT&T thành hệ thống liên kết các tổng đài địa phương, tạo mạng điện thoại đường dài toàn quốc và đặt nền cho độc quyền Bell System.
Nhiều mảnh kỹ thuật gốc (điện từ học, máy phát, biến áp, ý tưởng điện báo/điện thoại) sinh ra ở Anh-Đức-Pháp-Ý… nhưng Mỹ là nơi ghép hình chúng thành những hệ thống khổng lồ: lưới điện toàn quốc, mạng điện thoại đường dài, mô hình công ty độc quyền kiểu AT&T.
Quay lại đúng vấn đề đã nói ở bài trước, đó là tốc độ đưa phát kiến khoa học vào thực tế của Trung Quốc bây giờ cực nhanh, nhanh nhất, như Mỹ ngày xưa
5. Sau Thế chiến II: gom chất xám Đức về Mỹ (Operation Paperclip)
Ngay sau 1945, Mỹ triển khai Operation Paperclip: Khoảng 1500-1600 nhà khoa học, kỹ sư Đức, nhiều người từ chương trình tên lửa V-2, hàng không phản lực, hóa học… được đưa sang Mỹ làm việc cho quân đội và các cơ quan nghiên cứu.
Nhân vật nổi tiếng nhất là Wernher von Braun, người sau này trở thành kiến trúc sư chính của chương trình tên lửa Mỹ và đóng vai trò lớn trong việc phát triển tên lửa Saturn V đưa người lên Mặt Trăng.
Một số nghiên cứu ước tính, giá trị tri thức, bằng sáng chế, quy trình công nghiệp lấy từ Đức tương đương khoảng 10 tỷ USD (giá trị thời đó, quy đổi ra bây giờ chắc phải là con số khổng lồ).
Chung quy lại, một phần không nhỏ sức mạnh khoa học - quân sự của Mỹ thời Chiến tranh Lạnh là copy nâng cấp trên nền tảng trí tuệ Đức sau chiến tranh.
Tóm lại, chiến lược của Mỹ, đó là không chỉ sao chép, Mỹ còn nhanh chóng chuẩn hóa, sản xuất hàng loạt, và cải tiến để phù hợp với thị trường nội địa khổng lồ. Đây là điểm giúp Mỹ vượt lên.
Điều này cho thấy copy là bước khởi đầu, nhưng cải tiến và làm chủ mới là chìa khóa. Nhật, Hàn, Trung Quốc cũng đi theo con đường này, và thực tế Mỹ từng là người học trò/copy/ăn cắp trước khi trở thành người dẫn đầu.
Tin tức từ khu vực Châu Á.
Hanwha Aerospace đã ký hợp đồng trị giá 705 tỷ won (482 triệu đô la) với Văn phòng Chương trình Mua sắm Quốc phòng để sản xuất hàng loạt hệ thống tên lửa đất đối không tầm xa.
Theo thỏa thuận, công ty sẽ cung cấp bệ phóng cho L-SAM và tên lửa chống tên lửa đạn đạo cho đến năm 2030. Hệ thống này được thiết kế để đánh chặn tầm cao, trước khi các hệ thống khác như M-SAM và Patriot được triển khai. Ngoài ra, một hợp đồng sản xuất hệ thống radar đa chức năng cho L-SAM đã được ký kết, và công việc đang được tiến hành trên L-SAM II.
Trong khi đó, Nhật Bản đã phê duyệt thêm chi tiêu quân sự 5,4 tỷ đô la.
Theo kế hoạch, hai khinh hạm mới và bốn tàu ngầm diesel-điện sẽ được đóng, nâng tổng số tàu lên 12 chiếc. Một phần kinh phí sẽ được sử dụng để đẩy nhanh việc sản xuất các tàu đang được đóng. Ngoài ra, việc mua thêm tên lửa chống hạm cho hệ thống Type 12 và tên lửa đất đối không tầm trung cho Type 03 cũng được tài trợ.
Lực lượng đối lập đã đột kích vào đồn cảnh sát Zigon ở huyện Kanbalu, Myanmar. Vụ tấn công khiến sáu cảnh sát thiệt mạng, sáu người khác bị bắt và thu giữ 11 vũ khí.
Các nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố rằng mạng lưới vệ tinh Starlink phức tạp, liên tục thay đổi chỉ có thể bị vô hiệu hóa bằng chiến lược gây nhiễu phân tán quy mô lớn.
Theo tờ South China Morning Post, họ cho rằng việc tạo ra một lá chắn điện từ trên chiến trường sẽ đòi hỏi phải triển khai "hàng trăm hoặc hàng nghìn thiết bị gây nhiễu nhỏ, đồng bộ" được gắn trên máy bay không người lái, khinh khí cầu hoặc máy bay.
Trung Quốc vừa công bố một thiết bị cắt cáp biển sâu cực mạnh, có khả năng cắt đứt các tuyến cáp bọc thép, vốn đang vận chuyển 95% lưu lượng internet toàn cầu, làm dấy lên những lo ngại nghiêm trọng về an ninh mạng và ổn định quốc tế.
Được phát triển bởi Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hàng hải Trung Quốc, thiết bị này có thể hoạt động ở độ sâu lên tới 4.000 mét bằng cách sử dụng đá mài phủ kim cương. Mặc dù được quảng cáo chính thức là thiết bị cứu hộ hàng hải và khai thác tài nguyên, nhưng các ứng dụng quân sự tiềm tàng của nó, đặc biệt là gần các khu vực chiến lược quan trọng như Guam, đã khiến các chuyên gia quốc phòng trên toàn thế giới lo ngại.
Việc thiết bị này được triển khai bí mật thông qua các phương tiện dưới nước khiến nó vừa là một tiến bộ công nghệ vừa là một mối đe dọa chiến lược. Mặc dù các nhà khoa học Trung Quốc khẳng định thiết bị này được thiết kế cho mục đích hòa bình, nhưng bản chất công dụng kép của những thiết bị này làm gia tăng lo ngại về phá hoại dưới nước, đặc biệt là trong bối cảnh thế giới ngày càng phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng cáp ngầm. Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng và áp lực buộc các quốc gia phải bảo vệ các kênh kỹ thuật số của mình, bước phát triển này cho thấy rõ ràng các công nghệ mới có thể thay đổi động lực quyền lực toàn cầu và phơi bày những điểm yếu quan trọng trong thế giới kết nối của chúng ta.
Trung Quốc vừa trình làng máy bay không người lái cảm tử LOONG M9, rất giống với Shahed/Geranium.
Thông số kỹ thuật được công bố:
Tải trọng: 50 kg, trọng lượng cất cánh: 200 kg. Tốc độ: 223 km/h, tầm hoạt động: lên tới 1.620 km.
Thất bại trong vụ phóng tên lửa đẩy Zhuque-3 tái sử dụng của Trung Quốc
Tên lửa đẩy tái sử dụng do công ty thương mại LandSpace có trụ sở tại Bắc Kinh chế tạo, đã lần đầu tiên được phóng vào hôm nay từ Trung tâm Phóng Vệ tinh Tửu Tuyền. Khi đạt đến quỹ đạo Trái Đất thấp, tầng đầu tiên - phần dưới của tên lửa cung cấp lực nâng - đã bốc cháy giữa không trung và rơi xuống gần khu vực hạ cánh.
LandSpace đưa tin trên mạng xã hội rằng tầng đầu tiên "gặp sự cố bất thường" trong quá trình hạ cánh và "không thể hạ cánh mềm xuống bệ phóng". Các mảnh vỡ rơi xuống vùng ngoại vi của bệ phóng. Nguyên nhân đang được điều tra.
Công ty cũng lưu ý rằng tất cả các giai đoạn khác của sứ mệnh - phóng, tách tầng, đốt cháy động cơ tầng hai và khởi động lại tầng hai - đều diễn ra bình thường.
Tên lửa đẩy tái sử dụng giúp giảm chi phí phóng và đẩy nhanh quá trình chuẩn bị cho các lần phóng tiếp theo, điều này rất quan trọng đối với các dự án không gian lớn - đặc biệt là các chòm sao vệ tinh internet theo kế hoạch của Trung Quốc.
Zhuque-3 cao 66 mét và đường kính 4,5 mét. Tầng đầu tiên của nó được trang bị chín động cơ Thiên Quỳ-12A, chạy bằng metan lỏng và oxy lỏng, và được thiết kế để tái sử dụng ít nhất 20 lần. Ở chế độ tái sử dụng, tên lửa có khả năng đưa tới 18 tấn tải trọng lên quỹ đạo - ví dụ, nhiều vệ tinh một tấn cho các chòm sao internet được thiết kế để cạnh tranh với Starlink. Cả chòm sao Gowang và dự án Thiên Phàm đều hướng tới mục tiêu triển khai các chòm sao lên tới 10.000 vệ tinh.
Các vụ phóng đầu tiên của các tên lửa tái sử dụng khác của Trung Quốc - Thiên Long-3, do công ty tư nhân Space Pioneer vận hành, và tên lửa Trường Chinh-12A của nhà nước, hiện đang được đặt tại Trung tâm Phóng Vệ tinh Tửu Tuyền - dự kiến sẽ sớm diễn ra.
Tên lửa Trường Chinh-12A, cũng dự kiến được phóng vào tháng 12, dự kiến sẽ cố gắng đạt đến quỹ đạo và thu hồi tầng đầu tiên. Tên lửa có khả năng đưa tới 12 tấn lên quỹ đạo thấp.
Vào tháng 10, LandSpace đưa tin Zhuque-3 đã hoàn tất các thử nghiệm tiếp nhiên liệu và phóng. Vụ phóng đã bị hoãn lại sau khi mảnh vỡ vũ trụ làm hỏng tàu vũ trụ Thần Châu-20 đang neo đậu tại trạm Thiên Cung, buộc phi hành đoàn phải quay trở lại Trái Đất bằng một phương tiện khác. Vụ phóng sau đó lại bị hoãn mà không có lời giải thích.
Tái tổ chức Hậu cần tại Okinawa
Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại Trại Schwab (Tỉnh Okinawa) đã chính thức công bố ( https://news.usni.org/2025/12/01/u-s-marine-corps-activates-3-new-companies-at-japan-base-as-part-of-force-design-2030) việc thành lập ba đại đội thuộc Tiểu đoàn Hỗ trợ Chiến đấu số 4 được tái tổ chức.
Thành phần của Tiểu đoàn 4
• Đại đội Chỉ huy
• Đại đội Alpha
• Đại đội Hỗ trợ Chung.
Kế hoạch đề xuất thành lập Đại đội Bravo sau khi Đại đội Alpha được biên chế đầy đủ.
Các hoạt động này đang được triển khai như một phần của chương trình Thiết kế Lực lượng 2030, nhằm mục đích tạo ra các đơn vị nhẹ, có tính cơ động cao và phân tán để thực hiện các hoạt động phân tán ở Tây Thái Bình Dương, chủ yếu ở Vành đai Đảo thứ nhất. Điều này sẽ tăng cường khả năng sống sót của lực lượng Mỹ trong trường hợp xảy ra khủng hoảng xung quanh Đài Loan hoặc Biển Hoa Đông. Việc tăng cường lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại Okinawa mang trọng tâm rõ rệt chống lại Trung Quốc.
Việc tái tổ chức này nhằm mục đích:
• đảm bảo phân tán hỏa lực và các vị trí trinh sát cho Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ;
• tăng cường khả năng phục hồi của chuỗi hậu cần trước nguy cơ gián đoạn thông tin liên lạc và hỏa lực;
• giảm sự phụ thuộc vào các căn cứ lớn, dễ bị tấn công;
• chuẩn bị các đơn vị cơ động nhỏ cho các hoạt động tại quần đảo Ryukyu.
Tiểu đoàn này được bố trí là đơn vị hỗ trợ hậu cần chủ chốt, cho phép Trung đoàn Thủy quân Lục chiến số 4 và các đơn vị thuộc Trung đoàn Thủy quân Lục chiến Duyên hải số 3 hoạt động trong các tình huống chiến đấu cường độ cao.





















