Cơ quan an ninh Trung Quốc cảnh báo người dân về cách gián điệp nước ngoài thu thập dữ liệu nhạy cảm, trong đó có cải trang thành thợ chụp ảnh cưới.
Đài truyền hình quốc gia Trung Quốc (CCTV) hôm 26/5 phát bộ phim tài liệu về phản gián, trong đó Cục Bảo vệ Bí mật Nhà nước (NASSP) cảnh báo về "những đôi mắt trong bóng tối" của gián điệp nước ngoài.
"Các phương thức, công cụ, tính chất bí mật và thủ đoạn mà cơ quan tình báo nước ngoài sử dụng vượt xa những gì mà đa số chúng ta có thể tưởng tượng", NASSP cảnh báo.
Giới chức Trung Quốc cho hay các cơ quan gián điệp nước ngoài đang hoạt động dưới nhiều vỏ bọc, đồng thời thừa nhận Trung Quốc đang đối mặt với những thách thức lớn hơn trong việc bảo vệ các bí mật trước sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ.
NASSP nêu trường hợp gián điệp nước ngoài đóng giả làm thợ chụp ảnh cưới, dựng các quầy chụp ảnh gần một quân cảng Trung Quốc. Với vỏ bọc này, gián điệp có thể quan sát hoạt động triển khai lực lượng hải quân Trung Quốc và các hoạt động tại quân cảng trong thời gian dài.
Ảnh minh họa trong bộ phim tài liệu cảnh báo về gián điệp cải trang thành thợ chụp ảnh cưới để theo dõi hoạt động tại cảng biển Trung Quốc. Ảnh chụp màn hình:CCTV
Cơ quan này còn nhắc đến một trường hợp lấy cớ nghiên cứu thiết bị lái xe thông minh để thu thập và chuyển dữ liệu bản đồ của Trung Quốc ra nước ngoài thông qua radar độ chính xác cao và thấu kính quang học GPS trên ôtô.
Một trường hợp khác được đề cập là người nuôi hải sâm họ Trương tại cảng Đại Liên phía đông bắc. Trương bị tình báo nước ngoài núp bóng một tổ chức phi chính phủ (NGO) tiếp cận để tặng "thiết bị giám sát chất lượng nước biển miễn phí" năm 2023, theo NASSP.
Sau đó, người ta phát hiện ra thiết bị này gắn một camera 360 độ liên tục giám sát hoạt động quân sự và lưu thông hàng hải ở các khu vực ven biển lân cận và dữ liệu được gửi về cho cơ quan tình báo nước ngoài.
Đại Liên là một trung tâm chiến lược của hải quân Trung Quốc, hỗ trợ nhiều hoạt động từ đóng tàu và chế tạo tàu sân bay đến triển khai tàu ngầm và không quân.
"Điều tưởng chừng như là việc hỗ trợ kỹ thuật đơn thuần trên thực tế lại là hoạt động gián điệp được lên kế hoạch tỉ mỉ nhằm vào các khu vực nhạy cảm của Trung Quốc. Đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm trong số nhiều hình thức giám sát ngụy trang", NASSP cảnh báo.
Cơ quan này cho biết họ cũng phát hiện các trường hợp gián điệp dưới danh nghĩa quan sát thời tiết gần các cơ sở quân sự, các nhà cung cấp vũ khí hoặc các vùng sản xuất lương thực lớn để phân tích hoạt động quân sự hoặc sản lượng cây trồng tại Trung Quốc.
"Đôi khi, họ còn tấn công mạng và kiểm soát các máy tính có kết nối mạng của chúng ta trong các cuộc đàm phán quốc tế, bí mật kích hoạt camera và micro để giám sát trực tiếp các cuộc thảo luận nội bộ nhằm tìm hiểu ranh giới cuối cùng của chúng ta", bộ phim tài liệu có đoạn.
Trang trại nuôi hải sâm của ông Trương ở Đại Liên. Ảnh:CCTV
Theo NASSP, tiến bộ trong công nghệ giám sát đang thúc đẩy sự phát triển của "những đôi mắt trong bóng tối", từ việc chụp ảnh truyền thống sang "thu thập toàn diện tất cả các loại thông tin, tạo thành một mạng lưới giám sát mạnh mẽ".
Các tiến bộ công nghệ này bao gồm thiết bị nhìn đêm, radar sử dụng AI và cảm biến 3D để định vị, theo dõi và nhận dạng mục tiêu di động ở phía bên kia bức tường, hay phần mềm xác định vị trí từ hình ảnh phản chiếu của mắt trong các bức ảnh.
NASSP cũng cảnh báo về nguy cơ rò rỉ bí mật nhà nước bởi những người "quá tò mò" hoặc muốn "khoe khoang", khi nhắc đến trường hợp một người đam mê quân sự họ Diệp. Người này đã chụp ảnh một sân bay quân sự trong một chuyến thám hiểm ngoài trời và chia sẻ hình ảnh về các máy bay chiến đấu mới của Trung Quốc cùng toàn bộ đường băng sân bay, gây ra một vụ rò rỉ thông tin mật nghiêm trọng.
Thiết bị theo dõi chất lượng nước biển miễn phí mà ông Trương ở Đại Liên nhận từ một cơ quan tình báo nước ngoài giả danh một tổ chức phi chính phủ năm 2023. Ảnh:CCTV
NASSP là cơ quan hàng đầu của Trung Quốc chịu trách nhiệm bảo vệ thông tin mật và hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Bảo mật Trung ương thuộc đảng Cộng sản Trung Quốc.
Phim tài liệu này nằm trong chiến dịch tuyên truyền thường niên "Tháng bảo vệ bí mật" của Trung Quốc nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng và an ninh quốc gia. Chiến dịch nhằm giáo dục công chúng và công chức nhà nước về việc bảo vệ bí mật nhà nước, chống gián điệp và ngăn ngừa rò rỉ dữ liệu.
Cơ quan an ninh Trung Quốc cảnh báo người dân về cách gián điệp nước ngoài thu thập dữ liệu nhạy cảm, trong đó có cải trang thành thợ chụp ảnh cưới.
Đài truyền hình quốc gia Trung Quốc (CCTV) hôm 26/5 phát bộ phim tài liệu về phản gián, trong đó Cục Bảo vệ Bí mật Nhà nước (NASSP) cảnh báo về "những đôi mắt trong bóng tối" của gián điệp nước ngoài.
"Các phương thức, công cụ, tính chất bí mật và thủ đoạn mà cơ quan tình báo nước ngoài sử dụng vượt xa những gì mà đa số chúng ta có thể tưởng tượng", NASSP cảnh báo.
Giới chức Trung Quốc cho hay các cơ quan gián điệp nước ngoài đang hoạt động dưới nhiều vỏ bọc, đồng thời thừa nhận Trung Quốc đang đối mặt với những thách thức lớn hơn trong việc bảo vệ các bí mật trước sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ.
NASSP nêu trường hợp gián điệp nước ngoài đóng giả làm thợ chụp ảnh cưới, dựng các quầy chụp ảnh gần một quân cảng Trung Quốc. Với vỏ bọc này, gián điệp có thể quan sát hoạt động triển khai lực lượng hải quân Trung Quốc và các hoạt động tại quân cảng trong thời gian dài.
Ảnh minh họa trong bộ phim tài liệu cảnh báo về gián điệp cải trang thành thợ chụp ảnh cưới để theo dõi hoạt động tại cảng biển Trung Quốc. Ảnh chụp màn hình:CCTV
Cơ quan này còn nhắc đến một trường hợp lấy cớ nghiên cứu thiết bị lái xe thông minh để thu thập và chuyển dữ liệu bản đồ của Trung Quốc ra nước ngoài thông qua radar độ chính xác cao và thấu kính quang học GPS trên ôtô.
Một trường hợp khác được đề cập là người nuôi hải sâm họ Trương tại cảng Đại Liên phía đông bắc. Trương bị tình báo nước ngoài núp bóng một tổ chức phi chính phủ (NGO) tiếp cận để tặng "thiết bị giám sát chất lượng nước biển miễn phí" năm 2023, theo NASSP.
Sau đó, người ta phát hiện ra thiết bị này gắn một camera 360 độ liên tục giám sát hoạt động quân sự và lưu thông hàng hải ở các khu vực ven biển lân cận và dữ liệu được gửi về cho cơ quan tình báo nước ngoài.
Đại Liên là một trung tâm chiến lược của hải quân Trung Quốc, hỗ trợ nhiều hoạt động từ đóng tàu và chế tạo tàu sân bay đến triển khai tàu ngầm và không quân.
"Điều tưởng chừng như là việc hỗ trợ kỹ thuật đơn thuần trên thực tế lại là hoạt động gián điệp được lên kế hoạch tỉ mỉ nhằm vào các khu vực nhạy cảm của Trung Quốc. Đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm trong số nhiều hình thức giám sát ngụy trang", NASSP cảnh báo.
Cơ quan này cho biết họ cũng phát hiện các trường hợp gián điệp dưới danh nghĩa quan sát thời tiết gần các cơ sở quân sự, các nhà cung cấp vũ khí hoặc các vùng sản xuất lương thực lớn để phân tích hoạt động quân sự hoặc sản lượng cây trồng tại Trung Quốc.
"Đôi khi, họ còn tấn công mạng và kiểm soát các máy tính có kết nối mạng của chúng ta trong các cuộc đàm phán quốc tế, bí mật kích hoạt camera và micro để giám sát trực tiếp các cuộc thảo luận nội bộ nhằm tìm hiểu ranh giới cuối cùng của chúng ta", bộ phim tài liệu có đoạn.
Trang trại nuôi hải sâm của ông Trương ở Đại Liên. Ảnh:CCTV
Theo NASSP, tiến bộ trong công nghệ giám sát đang thúc đẩy sự phát triển của "những đôi mắt trong bóng tối", từ việc chụp ảnh truyền thống sang "thu thập toàn diện tất cả các loại thông tin, tạo thành một mạng lưới giám sát mạnh mẽ".
Các tiến bộ công nghệ này bao gồm thiết bị nhìn đêm, radar sử dụng AI và cảm biến 3D để định vị, theo dõi và nhận dạng mục tiêu di động ở phía bên kia bức tường, hay phần mềm xác định vị trí từ hình ảnh phản chiếu của mắt trong các bức ảnh.
NASSP cũng cảnh báo về nguy cơ rò rỉ bí mật nhà nước bởi những người "quá tò mò" hoặc muốn "khoe khoang", khi nhắc đến trường hợp một người đam mê quân sự họ Diệp. Người này đã chụp ảnh một sân bay quân sự trong một chuyến thám hiểm ngoài trời và chia sẻ hình ảnh về các máy bay chiến đấu mới của Trung Quốc cùng toàn bộ đường băng sân bay, gây ra một vụ rò rỉ thông tin mật nghiêm trọng.
Thiết bị theo dõi chất lượng nước biển miễn phí mà ông Trương ở Đại Liên nhận từ một cơ quan tình báo nước ngoài giả danh một tổ chức phi chính phủ năm 2023. Ảnh:CCTV
NASSP là cơ quan hàng đầu của Trung Quốc chịu trách nhiệm bảo vệ thông tin mật và hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Bảo mật Trung ương thuộc đảng Cộng sản Trung Quốc.
Phim tài liệu này nằm trong chiến dịch tuyên truyền thường niên "Tháng bảo vệ bí mật" của Trung Quốc nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng và an ninh quốc gia. Chiến dịch nhằm giáo dục công chúng và công chức nhà nước về việc bảo vệ bí mật nhà nước, chống gián điệp và ngăn ngừa rò rỉ dữ liệu.
Không một quan chức Ấn Độ nào ra đón Ngoại trưởng Mỹ tại sân bay Delhi. Người duy nhất chào ông ta là phi công của chính chuyên cơ chở ông ta đến. Đây không phải sự nhầm lịch trình – đây là một thông điệp ngoại giao được tính toán lạnh lùng.
1. Cái tát không cần giơ tay Trong ngoại giao, sự vắng mặt đôi khi nói lên nhiều hơn bất kỳ tuyên bố chính thức nào. Khi Marco Rubio – Ngoại trưởng của siêu cường số một thế giới – bước xuống sân bay Indira Gandhi mà không có lấy một thứ trưởng hay quan chức hạng hai nào ra đón, Delhi đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới toàn bộ thế giới đang quan sát: chúng tôi không sợ các ông. Đây là mức độ bất kính công khai hiếm thấy trong lịch sử ngoại giao hiện đại. Ngay cả với những quốc gia có quan hệ căng thẳng, thông lệ tối thiểu vẫn là cử người ra đón cho có lệ. Ấn Độ đã không làm vậy – và sự lựa chọn đó hoàn toàn có chủ ý.
2. Con số nói lên tất cả Để hiểu tại sao Ấn Độ dám làm điều này, cần nhìn vào bức tranh thương mại thực tế. Mỹ là đối tác thương mại số một của Delhi với tổng kim ngạch 131,8 tỷ USD – nhưng cán cân nghiêng hẳn về phía Ấn Độ với xuất khẩu 88 tỷ và nhập khẩu chỉ 33 tỷ. Nói cách khác, Ấn Độ đang bán hàng cho Mỹ nhiều hơn gấp đôi so với chiều ngược lại. Đồng thời, Nga hiện là nơi Ấn Độ mua tới 35,8 tỷ USD dầu thô mỗi năm – chiếm phần lớn trong tổng nhập khẩu năng lượng 41 tỷ USD từ Matxcơva. Oa-sinh-tơn muốn thay thế con số đó bằng dầu của mình, hiện chỉ ở mức 14 tỷ USD. Đó là lý do thực sự Rubio có mặt tại Delhi – không phải vì tình hữu nghị, mà vì miếng bánh thị trường năng lượng khổng lồ đang nằm trong tay người Nga.
3. Nghệ thuật của kẻ đứng giữa Ấn Độ đang chơi một ván cờ tinh tế mà ít quốc gia đủ bản lĩnh để thực hiện: nhận tiền từ Mỹ, mua dầu của Nga, xây dựng quan hệ với Trung Quốc và không cam kết triệt để với bất kỳ bên nào. Cái tát dành cho Rubio ở sân bay là phần nổi của tảng băng đó. Ấn Độ muốn tối đa hóa đòn bẩy trước khi ngồi vào bàn đàm phán thương mại – và bỉ mặt Ngoại trưởng Mỹ trước ống kính quốc tế là cách Delhi cho Oa-sinh-tơn biết rằng họ không phải chư hầu dễ bảo. Nhưng đây cũng là giới hạn của chiến lược đó. Khi Mỹ là đối tác xuất khẩu lớn nhất và thị trường tiêu thụ không thể thay thế, Delhi hiểu rõ rằng mình không thể đẩy quá xa. Cuối cùng, cái bắt tay vẫn sẽ diễn ra – chỉ là với giá cao hơn và điều kiện tốt hơn nhờ màn trình diễn này.
4. Rubio, Ấn Độ và trò chơi của những kẻ không có lựa chọn lý tưởng Phía Mỹ cũng không ở thế mạnh tuyệt đối. Oa-sinh-tơn cần Ấn Độ như một đối trọng chiến lược với Trung Quốc – điều đó đồng nghĩa với việc họ không thể trừng phạt Delhi quá mạnh vì quan hệ với Nga. Đây là nghịch lý cốt lõi của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: Mỹ cần Ấn Độ hơn là Ấn Độ cần Mỹ trong ván cờ địa chính trị dài hạn. Rubio biết điều đó. Delhi biết điều đó. Và chính vì vậy, không ai ra sân bay đón ông ta – vì Ấn Độ biết rằng ông ta sẽ vẫn phải ngồi vào bàn đàm phán dù có bị làm nhục hay không. Khi một siêu cường phải đứng chờ ở sân bay mà không ai thèm ra đón, đó không phải là chuyện lịch sự hay thất lễ. Đó là dấu hiệu của một trật tự thế giới đang thay đổi – nơi sức mạnh không còn tự động mang lại sự kính trọng.
Summary: India’s cold reception for U.S. Secretary of State Marco Rubio signals a bold shift in global diplomacy, highlighting Delhi’s growing confidence between Washington, Moscow, and Beijing. (Tin Chiến Sự )
THẾ GIỚI NÊN HỌC CÁCH QUẢN LÝ TƯƠNG LAI CỦA TRUNG QUỐC Trong khi phương Tây dẫn đầu về đổi mới công nghệ, Trung Quốc lại đi trước trong việc thiết lập các quy tắc quản lý mới cho nền kinh tế số. Từ trí tuệ nhân tạo đến tài chính, năng lượng và công nghiệp, cách tiếp cận của Bắc Kinh cho thấy một mô hình phát triển khác, nơi nhà nước định hình công nghệ ngay từ đầu thay vì theo sau nó.
QUY ĐỊNH ĐI TRƯỚC CÔNG NGHỆ - LOGIC “NGƯỢC ĐỜI’ CỦA TRUNG QUỐC Một trong những khác biệt rõ ràng nhất giữa Trung Quốc và phương Tây nằm ở thời điểm can thiệp của nhà nước. Tại Mỹ và châu Âu, công nghệ thường phát triển trước rồi mới đến giai đoạn điều chỉnh pháp lý. Mạng xã hội là ví dụ điển hình: Facebook, YouTube hay TikTok mở rộng quy mô toàn cầu trong hơn một thập kỷ trước khi các chính phủ kịp xây dựng khung pháp lý kiểm soát nội dung, dữ liệu và thuật toán. Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, quy trình này tiếp tục lặp lại khi các mô hình AI tạo sinh được triển khai diện rộng trước khi luật liên bang ở Mỹ hay quy định của Liên minh châu Âu hoàn thiện. Trung Quốc đi theo hướng ngược lại. Bắc Kinh đặt ra các quy tắc gần như ngay từ giai đoạn công nghệ còn đang hình thành, buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ trước khi mở rộng ra thị trường. Điều này thể hiện rõ trong các quy định về thuật toán đề xuất năm 2022 và quy định về AI tạo sinh năm 2023, yêu cầu các nền tảng phải đăng ký, công bố nguyên tắc vận hành và chịu kiểm tra trước khi cung cấp dịch vụ. Trung tâm của hệ thống này là Cục Quản lý Không gian mạng Trung Quốc (CAC), cơ quan có quyền giám sát dữ liệu, kiểm soát nội dung và cấp phép cho các mô hình AI. Đến năm 2024, hơn 1.400 mô hình đã được đăng ký, cho thấy quy mô kiểm soát không chỉ cho có mà đã trở thành một hạ tầng quản trị thực tế. Cách tiếp cận này không dừng lại ở AI. Trong lĩnh vực fintech, Trung Quốc siết chặt hoạt động của Ant Group trước khi mô hình cho vay nền tảng lan rộng vượt kiểm soát, đồng thời nhanh chóng triển khai đồng nhân dân tệ kỹ thuật số trong khi nhiều nền kinh tế lớn vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm. Trong quản trị dữ liệu, Luật An ninh Dữ liệu và Luật Bảo vệ Thông tin Cá nhân được ban hành trước khi nền kinh tế số đạt quy mô tương đương phương Tây, qua đó định hình cách dữ liệu được thu thập, lưu trữ và sử dụng ngay từ đầu. Một ví dụ đặc biệt đáng chú ý là phán quyết của Tòa án Internet Bắc Kinh về quyền đối với giọng nói do AI tạo ra. Khi tòa xác định rằng giọng nói tổng hợp vẫn mang mối liên hệ pháp lý với người gốc, Trung Quốc đã chủ động thiết lập một chuẩn mực pháp lý trong một lĩnh vực mà hầu hết các quốc gia khác vẫn chưa kịp định nghĩa. Những quyết định như vậy cho thấy một triết lý xuyên suốt: công nghệ không được phép phát triển như một lĩnh vực độc lập, mà phải gắn chặt với hệ thống quản trị nhà nước. Trong mô hình này, luật pháp không theo sau đổi mới, mà trở thành một phần của quá trình đổi mới ngay từ đầu.
QUẢN TRỊ NỀN TẢNG: TỪ AI ĐẾN QUYỀN LỰC NỀN KINH TẾ SỐ Bài học từ Trung Quốc không chỉ dừng lại ở trí tuệ nhân tạo, mà còn thể hiện rõ trong cách nước này kiểm soát toàn bộ hệ sinh thái nền tảng số và các cấu trúc quyền lực mới nổi. Trong khoảng một thập kỷ qua, Bắc Kinh đã triển khai một loạt biện pháp nhằm tái định nghĩa mối quan hệ giữa nhà nước và các tập đoàn công nghệ, đặc biệt là những nền tảng có khả năng chi phối dữ liệu và hành vi người dùng. Một ví dụ rõ nét nằm ở chiến dịch siết chặt quản lý nền tảng công nghệ từ năm 2020, khi chính phủ Trung Quốc mở rộng quyền giám sát đối với các thuật toán đề xuất và cạnh tranh thị trường. Các quy định mới buộc những công ty như Meituan, Alibaba hay ByteDance phải công khai cách thuật toán phân phối nội dung, đồng thời hạn chế các hành vi như độc quyền dữ liệu hay “khóa” người dùng trong hệ sinh thái riêng. Theo phân tích của Brookings Institution, đây không đơn thuần là vấn đề chống độc quyền, mà là nỗ lực chuyển quyền lực từ các nền tảng tư nhân về lại khuôn khổ chính sách công. Một trường hợp khác cho thấy cách Trung Quốc chủ động kiểm soát rủi ro ngay từ gốc là việc ban hành quy định đối với “economy of influencers” và live-stream thương mại điện tử. Các nền tảng livestream bán hàng – từng bùng nổ mạnh mẽ – được yêu cầu phải chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung quảng cáo, chất lượng sản phẩm và hành vi của người dẫn chương trình. Những nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực này đã bị xử phạt trong các vụ việc gian lận thuế và quảng cáo sai sự thật. Điều này cho thấy nhà nước không coi đổi mới là đủ, mà yêu cầu hệ sinh thái phải vận hành trong khuôn khổ kiểm soát rủi ro tài chính và xã hội. Trong lĩnh vực trò chơi trực tuyến, Trung Quốc cũng áp dụng cách tiếp cận tương tự. Các quy định giới hạn thời gian chơi đối với người chưa thành niên, yêu cầu xác thực danh tính và kiểm soát nội dung phản ánh mối quan tâm của chính phủ đối với tác động xã hội của công nghệ. Theo các nghiên cứu từ CSIS và Stanford Internet Observatory, dù gây tranh cãi, những chính sách này cho thấy một cách tiếp cận mà ở đó nền tảng số không chỉ là công cụ kinh tế, mà là không gian cần được quản trị giống như các lĩnh vực xã hội khác. Những ví dụ này phản ánh một nguyên tắc nhất quán: các nền tảng công nghệ không được phát triển như những thực thể tự trị, mà phải tích hợp vào cấu trúc quản trị quốc gia. Trong mô hình này, kiểm soát không phải là phản ứng sau khi rủi ro xuất hiện, mà là công cụ để định hình cách công nghệ phát triển ngay từ đầu.
CÔNG NGHIỆP VÀ NĂNG LƯỢNG: CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN THAY VÌ THỊ TRƯỜNG TỰ ĐIỀU CHỈNH Ở cấp độ rộng hơn, cách tiếp cận “quy định đi trước” của Trung Quốc được thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực công nghiệp và năng lượng, nơi nhà nước không chỉ điều tiết mà còn trực tiếp định hướng cấu trúc phát triển. Khác với nhiều nền kinh tế phát triển dựa chủ yếu vào tín hiệu thị trường, Bắc Kinh sử dụng các kế hoạch trung và dài hạn để xác định ngành ưu tiên, phân bổ vốn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô. Chiến lược Made in China 2025, công bố từ giữa thập niên 2010, là một trong những ví dụ điển hình. Chương trình này không đơn thuần khuyến khích sản xuất trong nước, mà xác định rõ các lĩnh vực cốt lõi như bán dẫn, robot, xe điện và vật liệu mới, đồng thời kết hợp hỗ trợ tín dụng, trợ cấp và chính sách công nghiệp để thúc đẩy năng lực nội địa. Các nghiên cứu của CSIS và Mercator Institute for China Studies (MERICS) cho thấy đây là một trong những chiến lược công nghiệp hiếm hoi được triển khai nhất quán trong thời gian dài, bất chấp biến động kinh tế. Trong lĩnh vực năng lượng, cách tiếp cận này thậm chí còn rõ nét hơn. Trung Quốc không chỉ đặt mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, mà còn chủ động xây dựng toàn bộ chuỗi giá trị. Từ khai thác nguyên liệu đất hiếm, sản xuất tấm pin mặt trời, đến hệ thống lưới điện và lưu trữ năng lượng, các doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động trong một hệ sinh thái được hỗ trợ mạnh bởi chính sách công. Theo International Energy Agency (IEA), Trung Quốc hiện chi phối phần lớn công suất sản xuất tấm pin mặt trời toàn cầu và là mắt xích trung tâm trong chuỗi cung ứng năng lượng sạch. Một ví dụ cụ thể là ngành xe điện. Nhờ các chương trình trợ giá kéo dài nhiều năm, đầu tư vào hạ tầng sạc và yêu cầu bắt buộc đối với các hãng xe, Trung Quốc đã tạo ra thị trường xe điện lớn nhất thế giới. Theo IEA, hơn một nửa xe điện bán ra toàn cầu hiện nay đến từ Trung Quốc, trong khi các công ty như BYD đã vượt qua nhiều đối thủ quốc tế về sản lượng. Điều quan trọng không chỉ là quy mô thị trường, mà là khả năng kiểm soát toàn bộ hệ sinh thái, từ sản xuất pin đến phần mềm vận hành. Cách tiếp cận này đi kèm với một giả định chiến lược rõ ràng: trong các lĩnh vực có ý nghĩa dài hạn đối với an ninh kinh tế và công nghệ, tốc độ mở rộng và quy mô thị trường có thể quan trọng hơn hiệu quả ngắn hạn. Thay vì chờ thị trường tự điều chỉnh, Trung Quốc chủ động tạo ra thị trường và định hình hướng phát triển của nó. Điều đó giúp nước này không chỉ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, mà trong nhiều trường hợp đã chuyển sang vị trí trung tâm của chuỗi đó.
MỘT MÔ HÌNH CÓ THỂ XUẤT KHẨU Một trong những hệ quả đáng chú ý từ cách tiếp cận của Trung Quốc là khả năng xuất khẩu không chỉ công nghệ, mà cả mô hình quản trị đi kèm với nó. Trong nhiều năm qua, Bắc Kinh không chỉ cung cấp hạ tầng số, mà còn chuyển giao cả tiêu chuẩn vận hành, cơ chế kiểm soát và khuôn khổ pháp lý cho các quốc gia đối tác, đặc biệt trong khuôn khổ Sáng kiến Vành đai – Con đường (BRI). Trong lĩnh vực số, ví dụ rõ ràng nhất là sự lan rộng của “smart city” và hệ thống quản trị dữ liệu do các công ty Trung Quốc triển khai tại nhiều nước đang phát triển. Các dự án như hệ thống giám sát đô thị, nền tảng thanh toán và quản lý dữ liệu ở một số quốc gia châu Phi và Đông Nam Á không chỉ bao gồm phần mềm và phần cứng, mà còn đi kèm với cách tổ chức quản trị dữ liệu tập trung. Những mô hình này hấp dẫn đối với các chính phủ thiếu nguồn lực thể chế, vì nó cho phép triển khai nhanh các hệ thống quản lý mà không cần xây dựng toàn bộ khuôn khổ từ đầu. Trong lĩnh vực viễn thông, việc triển khai mạng 5G của các doanh nghiệp Trung Quốc tại nhiều quốc gia cũng đi kèm với các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình quản lý dữ liệu riêng. Điều này tạo ra một dạng “hiệu ứng khóa” (lock-in), khi hạ tầng vật lý và quy định vận hành trở nên khó tách rời. Đối với nhiều quốc gia, đặc biệt ở châu Á, Trung Đông và châu Phi, mô hình này mang lại hai lợi ích rõ ràng. Nó cho phép đẩy nhanh quá trình số hóa trong khi hệ thống pháp lý còn chưa hoàn thiện, đồng thời giảm phụ thuộc vào các tiêu chuẩn do phương Tây thiết lập. Kết quả là, thay vì hội tụ vào một bộ quy tắc toàn cầu, thế giới đang chứng kiến sự hình thành của nhiều “hệ sinh thái quản trị số” khác nhau, với Trung Quốc là một trong những nguồn cung cấp quan trọng.
GIỚI HẠN VÀ NHỮNG CÂU HỎI CHƯA CÓ LỜI GIẢI Tuy nhiên, chính những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của mô hình Trung Quốc cũng là nguồn gốc của các lo ngại. Các chuyên gia tại Harvard Kennedy School và CSIS chỉ ra rằng mức độ kiểm soát cao có thể tạo ra hiệu quả trong ngắn hạn, nhưng lại đặt ra câu hỏi về khả năng thích ứng và đổi mới trong dài hạn. Một trong những điểm tranh luận lớn là việc nhà nước đóng vai trò quá sâu trong quá trình phân bổ nguồn lực. Trong khi các chiến lược công nghiệp có thể thúc đẩy tăng trưởng nhanh trong các lĩnh vực ưu tiên, chúng cũng có nguy cơ dẫn đến dư thừa công suất hoặc đầu tư kém hiệu quả, như từng xảy ra trong một số ngành công nghiệp nặng và bất động sản. Ngoài ra, việc kiểm soát chặt chẽ dữ liệu và nền tảng có thể hạn chế khả năng thử nghiệm và sáng tạo ở cấp doanh nghiệp. Các nghiên cứu từ Stanford Digital Economy Lab cho thấy đổi mới công nghệ thường phát sinh trong môi trường có mức độ tự do cao, nơi các mô hình mới có thể được thử nghiệm mà không chịu ràng buộc quá sớm. Quan trọng hơn, mô hình này đặt ra một câu hỏi chưa có lời giải rõ ràng: đâu là điểm cân bằng giữa kiểm soát và sáng tạo. Nếu thiếu kiểm soát, công nghệ có thể gây ra rủi ro hệ thống. Nhưng nếu kiểm soát quá mức, chính những động lực tạo nên đổi mới có thể bị suy giảm. Trong bối cảnh đó, kinh nghiệm của Trung Quốc không chỉ là một mô hình để học hỏi, mà còn là một phép thử thực tế về việc làm thế nào để quản lý công nghệ mà không làm mất đi khả năng đổi mới của nó.
Thế giới có rất nhiều điều phải theo dõi và học hỏi Trung Quốc. Bài học quan trọng nhất nằm ở cách đất nước này kết nối công nghệ với mục tiêu quốc gia. Trung Quốc cho thấy nhà nước có thể đóng vai trò chủ động trong việc định hình hướng phát triển của công nghệ, thay vì chỉ phản ứng sau khi nó đã định hình xã hội. (Tin hay thế giới) Trần Kiên
TQ đang quản lý và khai thác tốt sự suy thoái của phương Tây, trong khi toàn phương Tây không ai quản được sự suy thoái của mình. TQ đang thắng vì họ có nhà nước, Mỹ đang thua vì họ chỉ còn thị trường, mà thị trường thì không có tổ quốc. Nhưng có một rủi ro TQ không kiểm soát được: Mỹ suy thoái không có nghĩa là Mỹ yếu đi đều đặn và có thể dự báo - Mỹ suy thoái có nghĩa là Mỹ ngày càng khó đoán, bốc đồng và sẵn sàng phá luật chơi. Một cường quốc đang xuống dốc với 6,000 đầu đạn hạt nhân và văn hóa chính trị ngày càng cực đoan - đó không phải đối thủ dễ quản lý. TQ giỏi chơi cờ dài hạn, nhưng đối thủ của họ đang ngày càng chơi không theo luật nào cả! (Phạm Chân Dũng)
TQ đang quản lý và khai thác tốt sự suy thoái của phương Tây, trong khi toàn phương Tây không ai quản được sự suy thoái của mình. TQ đang thắng vì họ có nhà nước, Mỹ đang thua vì họ chỉ còn thị trường, mà thị trường thì không có tổ quốc. Nhưng có một rủi ro TQ không kiểm soát được: Mỹ suy thoái không có nghĩa là Mỹ yếu đi đều đặn và có thể dự báo - Mỹ suy thoái có nghĩa là Mỹ ngày càng khó đoán, bốc đồng và sẵn sàng phá luật chơi. Một cường quốc đang xuống dốc với 6,000 đầu đạn hạt nhân và văn hóa chính trị ngày càng cực đoan - đó không phải đối thủ dễ quản lý. TQ giỏi chơi cờ dài hạn, nhưng đối thủ của họ đang ngày càng chơi không theo luật nào cả! (Phạm Chân Dũng)
Lúc thế sự loạn cào cào, viết kiểu gì cũng đúng, vì về tổng thể ít nhiều có liên quan, nhưng nếu chỉ đơn giản như vậy thì bạn ấy nhìn sự việc cũng đơn giản quá, chơi cờ khi vào cục rồi, có chơi kiểu phá luật cũng không dễ, có lẽ bạn kia cũng chưa mấy khi chơi cờ hoặc rơi vào cục cờ bao giờ nên tư duy đơn giản như thế.
Sau chuyến thăm Bắc Kinh của Trump, Mỹ bước đầu có những hành động thực hiện những ước hẹn với Trung Quốc, nhưng cục diện Iran không thay đổi khiến Mỹ rơi vào thế khó, Mỹ có vẻ đang tạo thêm lá bài qua tình huống của Hàn Quốc, đối với Nhật Bản có thể Mỹ sẽ mặc cả để tháo lỏng xích nhưng đánh đổi lại Nhật Bản sẽ nhắm vào Trung Quốc chứ không nhắm vào Mỹ, Mỹ cũng ngừng tác động thúc giục Philippine, để Nhật Bản trở thành đầu mối liên kết Philippine và các nước Đông Nam Á nhắm vào Trung Quốc.
Như vậy, bất luận đàm phán dưới gầm bàn thế nào đi chăng nữa, Mỹ vẫn duy trì truyền thống nuốt lời, xé thỏa thuận đã duy trì từ lâu, cuộc đấu giữa Trung Quốc và Mỹ không thể tránh khỏi, vấn đề chưa xác định là khi nào và ở nước nào trong khu vực Đông Bắc Á đến Đông Nam Á, nước nào sẽ bị đẩy lên làm chiến trường ủy nhiệm.
Đặt câu hỏi về quan hệ Trung Quốc – Liên minh châu Âu trong bối cảnh Bắc Kinh đang chủ động định hình lại trật tự kinh tế toàn cầu.
Trong vòng 10 ngày, Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp hai lãnh đạo có ảnh hưởng lớn: ông Trump và Tổng thống Putin.
Cuộc gặp với ông Trump được mô tả là mang lại các cam kết mơ hồ, chủ yếu liên quan đến mua nông sản, nhưng không có ràng buộc cấu trúc.
Cuộc gặp với Tổng thống Putin được đánh giá là củng cố một quan hệ đối tác bền vững hơn, dựa trên nhu cầu chiến lược song trùng.
Trong khi Trung Quốc chủ động tổ chức các hội nghị có thể định hình thương mại toàn cầu, EU lại tập trung vào các công cụ phòng vệ thương mại nhằm hạn chế hàng hóa Trung Quốc.
Sự tương phản này cho thấy Trung Quốc đang ở thế tấn công, còn châu Âu ở thế phòng ngự.
Vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở Trung Quốc, mà còn ở chính châu Âu, nơi đã tự ràng buộc mình bởi các lựa chọn cấu trúc kéo dài trong hai thập kỷ.
1) Những con số biết nói
Cuộc họp của Ủy ban châu Âu ngày 29/5 tập trung vào “Công cụ chống dư thừa công suất”.
Công cụ này cho phép EU áp đặt trần nhập khẩu theo ngành đối với hàng hóa Trung Quốc bị cho là được trợ cấp và gây méo mó cạnh tranh.
EU dựa vào các số liệu thương mại để biện minh cho lập trường cứng rắn:
Thâm hụt thương mại hàng hóa của EU với Trung Quốc đạt khoảng 360 tỷ euro năm 2025.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, thặng dư thương mại của Trung Quốc với EU đạt 113 tỷ USD.
Tuy nhiên, các con số này chỉ phản ánh dòng chảy thương mại, chưa phản ánh đầy đủ vấn đề sâu xa hơn.
Vấn đề thực sự của châu Âu là sự phụ thuộc công nghiệp đã hình thành qua nhiều thập kỷ.
Các chính phủ và doanh nghiệp châu Âu từng chủ động lựa chọn nhà cung ứng rẻ và hiệu quả nhất trong thời kỳ toàn cầu hóa.
Hiện nay, EU thiếu một phương án thay thế đủ sức thay thế chuỗi cung ứng Trung Quốc.
2) Một thông điệp nhất quán
Nếu nhìn lịch trình ngoại giao của ông Tập không phải là các sự kiện rời rạc mà là một sắp đặt có chủ ý, thông điệp gửi tới châu Âu trở nên rõ ràng.
Cuộc gặp với ông Trump cho thấy Bắc Kinh có thể hóa giải áp lực từ Washington bằng các nhượng bộ mang tính biểu tượng.
Cuộc gặp với Tổng thống Putin củng cố trục chiến lược Trung – Nga, giúp Trung Quốc giảm áp lực từ phương Tây.
Hai sự kiện này cùng truyền đi thông điệp rằng Trung Quốc không bị cô lập.
Bắc Kinh có đủ độ linh hoạt chiến lược để chịu đựng các biện pháp thương mại từ châu Âu.
Ngược lại, châu Âu không có mức độ linh hoạt tương đương.
Trung Quốc hiểu rõ điểm yếu này của EU.
3) Sự tê liệt vốn có của EU
Tính dễ tổn thương của châu Âu bắt nguồn từ kiến trúc quản trị được thiết kế cho hội nhập thị trường, không phải cạnh tranh chiến lược.
EU có khả năng nhận diện vấn đề tốt, nhưng yếu trong chuyển hóa chẩn đoán thành hành động hiệu quả.
Nhiều chính sách đã chỉ ra đúng vấn đề nhưng thiếu năng lực thực thi:
Chương trình tự chủ chiến lược năm 2019.
Đạo luật Chips năm 2021.
Đạo luật Nguyên liệu thô quan trọng năm 2022.
Đạo luật Công nghiệp Net-Zero năm 2023.
Các chính sách này thiếu nguồn lực, thiếu điều phối và vượt ngoài khả năng kiểm soát thực tế.
Đây không phải thất bại về tư duy, mà là thất bại về năng lực thực thi.
Nguyên nhân nằm ở cấu trúc quyền lực của EU:
Một chính sách công nghiệp quy mô châu Âu cần quyền lực tài khóa lớn hơn cho Brussels.
Hoặc cần sự phối hợp tự nguyện sâu sắc giữa các nền kinh tế có mô hình khác nhau.
Đức, Pháp và các nước Nam Âu khác biệt lớn về chính trị và triết lý kinh tế.
Vì vậy, các lựa chọn chiến lược tốn kém thường bị kéo về nhiều hướng đối nghịch.
4) “Vấn đề Đức” không chỉ là vấn đề của riêng nước Đức
Đức thường bị xem là nhân tố cản trở vì phụ thuộc sâu vào thị trường và chuỗi cung ứng Trung Quốc.
Sự do dự của Berlin được lý giải là phản ứng hợp lý từ mô hình tăng trưởng hậu chiến:
Dựa vào thị trường mở.
Xuất khẩu công nghiệp giá trị cao.
Sử dụng đầu vào chi phí thấp.
Yêu cầu Đức đối đầu kinh tế với Trung Quốc mà không có khung công nghiệp thay thế đáng tin cậy là yêu cầu mang tính sống còn.
Câu hỏi quan trọng không phải là chỉ trích Đức, mà là làm thế nào để Đức và các nền kinh tế tương tự chấp nhận chi phí tái định hướng chiến lược.
Câu trả lời cần có:
Chia sẻ rủi ro.
Đầu tư chung.
Cơ chế điều chỉnh cho các ngành chịu tổn thất lớn.
Tuy nhiên, những điều kiện này hiện chưa tồn tại đầy đủ trong cấu trúc kinh tế – chính trị của EU.
5) Những bước đi đầu của năng lực chiến lược
Brussels ưa dùng thuật ngữ “de-risking”, tức giảm rủi ro mà không gây đứt gãy chính trị.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc của châu Âu vào Trung Quốc là rất nền tảng, đặc biệt trong chuyển đổi xanh.
Các lĩnh vực phụ thuộc sâu vào Trung Quốc gồm:
Vật liệu pin.
Đất hiếm.
Linh kiện năng lượng mặt trời.
Nghịch lý là châu Âu càng đẩy nhanh phi carbon hóa thì càng phụ thuộc hơn vào Trung Quốc.
Giảm rủi ro thực chất đòi hỏi ba yếu tố mà EU thường thiếu:
Năng lực tài khóa đủ lớn để đầu tư.
Sự nhất quán thể chế để hành động nhanh và đồng bộ.
Sự trung thực chính trị về chi phí mà người dân và doanh nghiệp phải gánh chịu.
Dù vậy, châu Âu không hoàn toàn đứng yên.
Một số công cụ và sáng kiến cho thấy EU bắt đầu nhận ra thị trường mở không đồng nghĩa với dễ tổn thương chiến lược:
Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon.
Các khuôn khổ bảo hộ thép mới.
Các sáng kiến công nghiệp gần đây.
Tây Ban Nha nổi lên với nguyên tắc “Giá trị ở châu Âu”.
Nguyên tắc này nhấn mạnh ưu đãi phải gắn với đóng góp công nghiệp thực chất, không chỉ dựa trên đăng ký pháp lý.
Đây được xem là cách tiếp cận mới nhằm tái định nghĩa chủ quyền công nghiệp châu Âu.
Tuy nhiên, nếu Brussels coi từng công cụ phòng vệ thương mại riêng lẻ là một “chiến lược Trung Quốc” hoàn chỉnh, khoảng cách quyền lực giữa EU và Trung Quốc sẽ tiếp tục sâu thêm.
Vấn đề không phải EU có công cụ hay không, mà là thiếu một hệ thống chiến lược gắn kết phía sau.
Cuộc tranh luận tại châu Âu đang thay đổi:
Ngôn ngữ chính sách bắt đầu nghi ngờ giả định rằng cởi mở tự thân đã là chiến lược.
Một số lãnh đạo kêu gọi cân bằng và tự cường công nghiệp.
Một số tiếng nói khác vẫn muốn tránh đứt gãy quan hệ với Trung Quốc.
Câu hỏi lớn đang hình thành là:
Châu Âu nên cởi mở đến mức nào?
Sự cân bằng thực sự đòi hỏi điều gì trong một trật tự kinh tế ngày càng bất đối xứng?
Châu Âu đang tiến sát một cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Đây là lý do vì sao. Khi hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc tràn vào, đe dọa lĩnh vực sản xuất của châu Âu, việc tìm kiếm giải pháp đang trở nên ngày càng cấp bách. THE NEW YORK TIMES | 29 tháng Năm 2026 ▌Tóm tắt - Châu Âu ngày càng lo ngại hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc đang đe dọa nền tảng sản xuất và việc làm của khối. - EU đang xem xét các biện pháp công nghiệp và thương mại mạnh hơn để bảo vệ các ngành chiến lược, đặc biệt là xe điện. - Trung Quốc cảnh báo sẽ trả đũa, trong khi các động thái kiểm soát xuất khẩu và chuỗi cung ứng của Bắc Kinh đã làm gia tăng căng thẳng song phương.
Kaja Kallas, nhà ngoại giao hàng đầu của Liên minh châu Âu (EU), gần đây đã gợi ý rằng việc chấm dứt sự phụ thuộc của châu lục vào Trung Quốc giống như điều trị một căn bệnh. Bà nói rằng có thể cần đến “hóa trị”, và quá trình đó nhiều khả năng sẽ rất đau đớn. Những phát biểu này là một ví dụ cho thấy giọng điệu mà châu Âu ngày càng sử dụng đối với Trung Quốc, đối tác thương mại hàng hóa lớn thứ hai của Liên minh châu Âu gồm 27 quốc gia, chỉ sau Mỹ. Khi Bắc Kinh áp dụng các chính sách thương mại quyết liệt hơn và khi lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào châu Âu tăng vọt, các nhà lãnh đạo và doanh nghiệp châu Âu ngày càng lo ngại về sự phụ thuộc của họ vào hàng hóa Trung Quốc — đồng thời tranh luận về cách thức rút lui khỏi tình trạng đó. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng thống trị lĩnh vực sản xuất, châu Âu nhìn thấy một mối đe dọa mang tính sống còn đối với các ngành công nghiệp của chính mình. “Giọng điệu hiện nay về cơ bản là hoảng loạn,” Jeromin Zettelmeyer, Giám đốc tổ chức nghiên cứu kinh tế Bruegel tại Brussels, nhận xét. “Có cảm giác rằng sự sụp đổ của ngành công nghiệp đang cận kề, rằng hiểm họa đang ở rất gần.” Sự lo lắng ở Brussels đang vấp phải phản ứng thù địch từ Bắc Kinh, nơi các quan chức cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ trả đũa bất kỳ biện pháp bảo hộ nào. Cuộc đối đầu bằng lời lẽ này có khả năng sẽ còn nóng lên trong những tuần tới. Các nhà lãnh đạo thế giới sẽ thảo luận về những mất cân đối kinh tế toàn cầu tại cuộc họp Nhóm G7 ở Evian, Pháp, vào tháng tới. Sau đó, Trung Quốc dự kiến cũng sẽ trở thành một chủ đề trong chương trình nghị sự của cuộc họp các nhà lãnh đạo cấp cao của 27 quốc gia EU.
Hôm thứ Sáu, cơ quan hành pháp của EU đã tiến hành một cuộc thảo luận sơ bộ về các chính sách đối với Trung Quốc, điều có thể định hình bầu không khí cho các cuộc thảo luận sắp tới. Trong tuyên bố sau cuộc họp, các quan chức cho biết mối quan hệ này sẽ đòi hỏi một “phản ứng mạnh mẽ và nhất quán hơn” trong tương lai. Các quan chức châu Âu vẫn bày tỏ hy vọng rằng họ có thể hợp tác với Trung Quốc để điều chỉnh các mất cân đối thương mại, vốn đã trở nên nghiêm trọng hơn khi Bắc Kinh gia tăng xuất khẩu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, họ cũng đang cân nhắc các biện pháp thương mại và công nghiệp mạnh tay hơn nhằm kiềm chế sự thống trị ngày càng tăng của Trung Quốc trong các lĩnh vực nhạy cảm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào Trung Quốc có thể cực kỳ khó khăn đối với châu Âu. Các chính trị gia và doanh nghiệp lo ngại bị trả đũa, trong khi người tiêu dùng đã quen với những gì Trung Quốc cung cấp. Người châu Âu vẫn tiếp tục mua các sản phẩm Trung Quốc giá rẻ, đặc biệt là xe điện — mặt hàng mà EU đã cố gắng nhưng không thành công trong việc ngăn chặn làn sóng tràn ngập thị trường. “Chúng ta không ở trong một vị thế tốt,” Rebecca Arcesati, chuyên gia của Viện Nghiên cứu Trung Quốc Mercator tại Brussels, nhận định. Bà lưu ý rằng các nhà lãnh đạo châu Âu phải đối mặt với áp lực từ cử tri cũng như những tính toán chính trị ngắn hạn, khiến việc đối phó với dòng hàng hóa từ Trung Quốc trở nên khó khăn hơn, đặc biệt nếu Bắc Kinh tiến hành trả đũa. “Hệ thống của chúng ta vốn không được thiết kế để đối mặt với một thách thức như thế này,” bà Arcesati nói.
Trung Quốc có các khoản trợ cấp và chương trình hỗ trợ của chính phủ giúp củng cố vị thế của các nhà máy và doanh nghiệp trong nước. Chính quyền Bắc Kinh đã dựa nhiều hơn vào lĩnh vực công nghiệp sau khi cuộc khủng hoảng bất động sản buộc các nhà hoạch định chính sách phải tìm động lực tăng trưởng mới. Đồng thời, khi các mức thuế của Mỹ khiến việc xuất khẩu sang thị trường Mỹ trở nên phức tạp hơn, các nhà máy Trung Quốc đã gia tăng xuất khẩu sang các thị trường như châu Âu. Trong quý I năm nay, lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào châu Âu tăng mạnh. Một phân tích dữ liệu hải quan năm 2026 của bản tin trực tuyến Soapbox và Viện Nghiên cứu Trung Quốc Mercator cho thấy thâm hụt thương mại của EU với Trung Quốc đã đạt mức kỷ lục trong những tháng đầu năm nay khi xe điện Trung Quốc ồ ạt tràn vào thị trường. Mức tăng này diễn ra trong bối cảnh các hãng xe Trung Quốc đối mặt với nhu cầu sụt giảm trong nước và đẩy mạnh mở rộng sang châu Âu. Đồng thời, người tiêu dùng châu Âu chuyển sang các lựa chọn xanh hơn khi cuộc chiến ở Trung Đông đẩy giá nhiên liệu tăng cao. Điều đó diễn ra sau khi EU ghi nhận mức thâm hụt thương mại hàng hóa khoảng 418 tỷ USD trong năm 2025 theo số liệu của khối. Sự kết hợp của những yếu tố này đang đe dọa các nhà sản xuất và người lao động châu Âu, đặc biệt tại Đức — quốc gia từ lâu là trung tâm sản xuất ô tô và hóa chất lớn của châu Âu nhưng hiện đang gặp khó khăn trong cạnh tranh.
Khi những lo ngại ngày càng gia tăng, châu Âu đã chuyển sang sử dụng những lời lẽ cứng rắn hơn và các ý tưởng táo bạo hơn. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, người từ lâu có lập trường chỉ trích Trung Quốc, đã kêu gọi EU xây dựng các biện pháp bảo vệ các ngành công nghiệp chiến lược tương tự như những công cụ mà Mỹ đang sở hữu và sử dụng. Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez, thường được xem là một trong những nhà lãnh đạo thân thiện hơn với Bắc Kinh ở châu Âu, đã phát biểu trong chuyến thăm Bắc Kinh gần đây rằng châu Âu cần Trung Quốc “mở cửa hơn để châu Âu không phải tự đóng cửa chính mình.” Tây Ban Nha ban đầu đã cùng Pháp, Ý, Litva và Hà Lan chuẩn bị một văn kiện kêu gọi EU phản ứng quyết liệt hơn, bao gồm cả việc triển khai các công cụ thương mại mới. Mặc dù văn kiện không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng nó chỉ trích các đối tác thương mại có tình trạng “dư thừa công suất công nghiệp mang tính hệ thống và cơ cấu.” Brad Setser, chuyên gia kinh tế tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations), cho rằng nhiều nhà lãnh đạo châu Âu phải hành động thận trọng với Trung Quốc vì lo ngại bị trả đũa. Tuy nhiên, ông nói thêm rằng nỗi lo về việc mất năng lực sản xuất có thể dần vượt qua nỗi sợ đó, kể cả ở những quốc gia như Đức. Châu Âu hiện đã thực hiện một số bước nhằm tự bảo vệ mình, bao gồm Đạo luật Tăng tốc Công nghiệp (Industrial Accelerator Act) do EU đề xuất, một chính sách toàn diện nhằm tái thiết nền tảng sản xuất của khối. Thiết kế của kế hoạch này trên thực tế sẽ ngăn các công ty Trung Quốc hưởng lợi từ một số khoản trợ cấp quan trọng, đặc biệt hỗ trợ các xe điện được sản xuất tại châu Âu. Chính sách này đã vấp phải sự phẫn nộ từ Bắc Kinh, nơi lên án kế hoạch là bảo hộ thương mại và cảnh báo sẽ trả đũa. Tuy nhiên, chính lập trường thương mại ngày càng cứng rắn của Trung Quốc cũng góp phần làm gia tăng phản ứng ngược tại châu Âu. Năm ngoái, Trung Quốc hai lần cấm xuất khẩu đất hiếm và nam châm đất hiếm nhằm đáp trả các mức thuế của Mỹ. Các lệnh cấm này cũng tác động đến châu Âu, nơi sử dụng các vật liệu đó trong các ngành công nghệ cao và năng lượng xanh.
Sự gián đoạn nguồn cung đã phơi bày mức độ phụ thuộc sâu sắc của các doanh nghiệp châu Âu. Vào tháng 4, Bắc Kinh công bố các quy định trao cho giới chức quyền kiểm tra hồ sơ doanh nghiệp, thẩm vấn nhân viên, thậm chí ngăn các giám đốc điều hành rời khỏi Trung Quốc nếu bị xác định là đang hỗ trợ việc chuyển chuỗi cung ứng ra khỏi nước này. Theo một đánh giá gần đây của Phòng Thương mại châu Âu tại Trung Quốc, động thái đó “có thể gây ra mức độ tổn hại chưa từng có đối với nền kinh tế châu Âu.” Theo Noah Barkin, chuyên gia về quan hệ châu Âu - Trung Quốc của công ty nghiên cứu Rhodium Group, phản ứng cứng rắn của Trung Quốc một phần xuất phát từ việc Bắc Kinh nhận thấy mặt trận chống lại các chính sách thương mại của mình đang kém thống nhất hơn khi Washington và Brussels ngày càng bất đồng. Thông điệp của Bắc Kinh gửi tới châu Âu, theo ông Barkin, là: “Người bạn thân nhất của các bạn đã không còn nữa, và ngay cả người Mỹ cũng đang tìm kiếm sự ổn định với chúng tôi, vì vậy đừng thử thách chúng tôi.”
Đặt câu hỏi về quan hệ Trung Quốc – Liên minh châu Âu trong bối cảnh Bắc Kinh đang chủ động định hình lại trật tự kinh tế toàn cầu.
Trong vòng 10 ngày, Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp hai lãnh đạo có ảnh hưởng lớn: ông Trump và Tổng thống Putin.
Cuộc gặp với ông Trump được mô tả là mang lại các cam kết mơ hồ, chủ yếu liên quan đến mua nông sản, nhưng không có ràng buộc cấu trúc.
Cuộc gặp với Tổng thống Putin được đánh giá là củng cố một quan hệ đối tác bền vững hơn, dựa trên nhu cầu chiến lược song trùng.
Trong khi Trung Quốc chủ động tổ chức các hội nghị có thể định hình thương mại toàn cầu, EU lại tập trung vào các công cụ phòng vệ thương mại nhằm hạn chế hàng hóa Trung Quốc.
Sự tương phản này cho thấy Trung Quốc đang ở thế tấn công, còn châu Âu ở thế phòng ngự.
Vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở Trung Quốc, mà còn ở chính châu Âu, nơi đã tự ràng buộc mình bởi các lựa chọn cấu trúc kéo dài trong hai thập kỷ.
1) Những con số biết nói
Cuộc họp của Ủy ban châu Âu ngày 29/5 tập trung vào “Công cụ chống dư thừa công suất”.
Công cụ này cho phép EU áp đặt trần nhập khẩu theo ngành đối với hàng hóa Trung Quốc bị cho là được trợ cấp và gây méo mó cạnh tranh.
EU dựa vào các số liệu thương mại để biện minh cho lập trường cứng rắn:
Thâm hụt thương mại hàng hóa của EU với Trung Quốc đạt khoảng 360 tỷ euro năm 2025.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, thặng dư thương mại của Trung Quốc với EU đạt 113 tỷ USD.
Tuy nhiên, các con số này chỉ phản ánh dòng chảy thương mại, chưa phản ánh đầy đủ vấn đề sâu xa hơn.
Vấn đề thực sự của châu Âu là sự phụ thuộc công nghiệp đã hình thành qua nhiều thập kỷ.
Các chính phủ và doanh nghiệp châu Âu từng chủ động lựa chọn nhà cung ứng rẻ và hiệu quả nhất trong thời kỳ toàn cầu hóa.
Hiện nay, EU thiếu một phương án thay thế đủ sức thay thế chuỗi cung ứng Trung Quốc.
2) Một thông điệp nhất quán
Nếu nhìn lịch trình ngoại giao của ông Tập không phải là các sự kiện rời rạc mà là một sắp đặt có chủ ý, thông điệp gửi tới châu Âu trở nên rõ ràng.
Cuộc gặp với ông Trump cho thấy Bắc Kinh có thể hóa giải áp lực từ Washington bằng các nhượng bộ mang tính biểu tượng.
Cuộc gặp với Tổng thống Putin củng cố trục chiến lược Trung – Nga, giúp Trung Quốc giảm áp lực từ phương Tây.
Hai sự kiện này cùng truyền đi thông điệp rằng Trung Quốc không bị cô lập.
Bắc Kinh có đủ độ linh hoạt chiến lược để chịu đựng các biện pháp thương mại từ châu Âu.
Ngược lại, châu Âu không có mức độ linh hoạt tương đương.
Trung Quốc hiểu rõ điểm yếu này của EU.
3) Sự tê liệt vốn có của EU
Tính dễ tổn thương của châu Âu bắt nguồn từ kiến trúc quản trị được thiết kế cho hội nhập thị trường, không phải cạnh tranh chiến lược.
EU có khả năng nhận diện vấn đề tốt, nhưng yếu trong chuyển hóa chẩn đoán thành hành động hiệu quả.
Nhiều chính sách đã chỉ ra đúng vấn đề nhưng thiếu năng lực thực thi:
Chương trình tự chủ chiến lược năm 2019.
Đạo luật Chips năm 2021.
Đạo luật Nguyên liệu thô quan trọng năm 2022.
Đạo luật Công nghiệp Net-Zero năm 2023.
Các chính sách này thiếu nguồn lực, thiếu điều phối và vượt ngoài khả năng kiểm soát thực tế.
Đây không phải thất bại về tư duy, mà là thất bại về năng lực thực thi.
Nguyên nhân nằm ở cấu trúc quyền lực của EU:
Một chính sách công nghiệp quy mô châu Âu cần quyền lực tài khóa lớn hơn cho Brussels.
Hoặc cần sự phối hợp tự nguyện sâu sắc giữa các nền kinh tế có mô hình khác nhau.
Đức, Pháp và các nước Nam Âu khác biệt lớn về chính trị và triết lý kinh tế.
Vì vậy, các lựa chọn chiến lược tốn kém thường bị kéo về nhiều hướng đối nghịch.
4) “Vấn đề Đức” không chỉ là vấn đề của riêng nước Đức
Đức thường bị xem là nhân tố cản trở vì phụ thuộc sâu vào thị trường và chuỗi cung ứng Trung Quốc.
Sự do dự của Berlin được lý giải là phản ứng hợp lý từ mô hình tăng trưởng hậu chiến:
Dựa vào thị trường mở.
Xuất khẩu công nghiệp giá trị cao.
Sử dụng đầu vào chi phí thấp.
Yêu cầu Đức đối đầu kinh tế với Trung Quốc mà không có khung công nghiệp thay thế đáng tin cậy là yêu cầu mang tính sống còn.
Câu hỏi quan trọng không phải là chỉ trích Đức, mà là làm thế nào để Đức và các nền kinh tế tương tự chấp nhận chi phí tái định hướng chiến lược.
Câu trả lời cần có:
Chia sẻ rủi ro.
Đầu tư chung.
Cơ chế điều chỉnh cho các ngành chịu tổn thất lớn.
Tuy nhiên, những điều kiện này hiện chưa tồn tại đầy đủ trong cấu trúc kinh tế – chính trị của EU.
5) Những bước đi đầu của năng lực chiến lược
Brussels ưa dùng thuật ngữ “de-risking”, tức giảm rủi ro mà không gây đứt gãy chính trị.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc của châu Âu vào Trung Quốc là rất nền tảng, đặc biệt trong chuyển đổi xanh.
Các lĩnh vực phụ thuộc sâu vào Trung Quốc gồm:
Vật liệu pin.
Đất hiếm.
Linh kiện năng lượng mặt trời.
Nghịch lý là châu Âu càng đẩy nhanh phi carbon hóa thì càng phụ thuộc hơn vào Trung Quốc.
Giảm rủi ro thực chất đòi hỏi ba yếu tố mà EU thường thiếu:
Năng lực tài khóa đủ lớn để đầu tư.
Sự nhất quán thể chế để hành động nhanh và đồng bộ.
Sự trung thực chính trị về chi phí mà người dân và doanh nghiệp phải gánh chịu.
Dù vậy, châu Âu không hoàn toàn đứng yên.
Một số công cụ và sáng kiến cho thấy EU bắt đầu nhận ra thị trường mở không đồng nghĩa với dễ tổn thương chiến lược:
Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon.
Các khuôn khổ bảo hộ thép mới.
Các sáng kiến công nghiệp gần đây.
Tây Ban Nha nổi lên với nguyên tắc “Giá trị ở châu Âu”.
Nguyên tắc này nhấn mạnh ưu đãi phải gắn với đóng góp công nghiệp thực chất, không chỉ dựa trên đăng ký pháp lý.
Đây được xem là cách tiếp cận mới nhằm tái định nghĩa chủ quyền công nghiệp châu Âu.
Tuy nhiên, nếu Brussels coi từng công cụ phòng vệ thương mại riêng lẻ là một “chiến lược Trung Quốc” hoàn chỉnh, khoảng cách quyền lực giữa EU và Trung Quốc sẽ tiếp tục sâu thêm.
Vấn đề không phải EU có công cụ hay không, mà là thiếu một hệ thống chiến lược gắn kết phía sau.
Cuộc tranh luận tại châu Âu đang thay đổi:
Ngôn ngữ chính sách bắt đầu nghi ngờ giả định rằng cởi mở tự thân đã là chiến lược.
Một số lãnh đạo kêu gọi cân bằng và tự cường công nghiệp.
Một số tiếng nói khác vẫn muốn tránh đứt gãy quan hệ với Trung Quốc.
Câu hỏi lớn đang hình thành là:
Châu Âu nên cởi mở đến mức nào?
Sự cân bằng thực sự đòi hỏi điều gì trong một trật tự kinh tế ngày càng bất đối xứng?
Vấn đề căn bản của tình hình là Châu Âu vốn vẫn muốn kiềm hãm và áp đặt chế tài, luật chơi cho Trung Quốc, bất chấp các chế tài, luật chơi mà Châu Âu đề ra đều không gây được ảnh hưởng buộc Trung Quốc chấp nhận. Nếu nhìn lại suốt từ năm 2020 đến nay, các chuyến thăm cấp cao được kỳ vọng sẽ mở ra viễn cảnh hợp tác mới mang lại lợi ích cho các bên mà các nguyên thủ, quan chức cấp cao của Châu Âu đối với Trung Quốc và ngược lại đều không đạt được như mong đợi, bởi các cuộc chiến về tài chính, luật lệ, kinh tế, khoa học kỹ thuật giữa Châu Âu và Trung Quốc vẫn liên tục không ngừng nghỉ. Nhìn từ góc độ người thường, nếu muốn hợp tác làm ăn với nhau, anh không thể cứ mãi áp đặt và ngăn cản đối phương trong hợp tác.
Trung Quốc luôn kỳ vọng Châu Âu có thể tự chủ, nhưng rất trớ trêu là Châu Âu lại kỳ vọng Trung Quốc sẽ ngoan ngoãn nghe lệnh như hơn 100 năm trước, chiến lược của Trung Quốc luôn bị coi thường hoặc bị coi là có đe doạ tới Châu Âu, hoặc thậm chí nó có thể khiến Châu Âu mất giá, mất đi địa vị bề trên, vì thế nó càng không thể có hiệu quả ở Châu Âu.
Không phải là quá muộn, mà là Châu Âu không chấp nhận và cũng không tiếp nhận nó.
Sau chuyến thăm Bắc Kinh của Trump, Mỹ bước đầu có những hành động thực hiện những ước hẹn với Trung Quốc, nhưng cục diện Iran không thay đổi khiến Mỹ rơi vào thế khó, Mỹ có vẻ đang tạo thêm lá bài qua tình huống của Hàn Quốc, đối với Nhật Bản có thể Mỹ sẽ mặc cả để tháo lỏng xích nhưng đánh đổi lại Nhật Bản sẽ nhắm vào Trung Quốc chứ không nhắm vào Mỹ, Mỹ cũng ngừng tác động thúc giục Philippine, để Nhật Bản trở thành đầu mối liên kết Philippine và các nước Đông Nam Á nhắm vào Trung Quốc.
Như vậy, bất luận đàm phán dưới gầm bàn thế nào đi chăng nữa, Mỹ vẫn duy trì truyền thống nuốt lời, xé thỏa thuận đã duy trì từ lâu, cuộc đấu giữa Trung Quốc và Mỹ không thể tránh khỏi, vấn đề chưa xác định là khi nào và ở nước nào trong khu vực Đông Bắc Á đến Đông Nam Á, nước nào sẽ bị đẩy lên làm chiến trường ủy nhiệm.
thách thằng Tầu dám tru di thập tộc Nhật Bản đấy, thảm sát Nam Kinh ver Bắc Kinh bây giờ
Trung Quốc, Ấn Độ, nắng nóng dữ dội và bài học cho Việt Nam Cái nóng như thiêu đốt, dữ dội đến mức "cảm giác như ruột gan đang sôi lên", không phải là thảm họa tự nhiên mà là thảm họa do con người gây ra ở Ấn Độ, nơi nhiệt độ đã tăng vọt lên tới 48°C. Cái nóng gay gắt đến mức cảm giác như "nội tạng đang bị luộc chín". Đợt nắng nóng 48°C ở Ấn Độ có vẻ như là một thảm họa tự nhiên do sự nóng lên toàn cầu gây ra, nhưng thực chất đó là một thảm họa hoàn toàn do con người tạo ra. Có thể nói mà không hề phóng đại rằng nếu tình trạng này tiếp diễn, sẽ không chỉ có người chết vì nắng nóng ở Ấn Độ; mà điều kinh hoàng hơn nữa sẽ còn xảy ra! Như mọi người đều biết, Ấn Độ hiện đang trải qua đợt nắng nóng trên toàn quốc. Từ đầu tháng 5, nhiệt độ ở Ấn Độ đã tăng vọt. Người ta coi 35°C là mát mẻ, và nhiệt độ trên 40°C là bình thường. Trên thực tế, một số khu vực ở Uttar Pradesh thậm chí còn trải qua đợt nắng nóng cực độ vượt quá 48°C! Hiện tại Ấn Độ nóng đến mức nào? Theo dữ liệu từ một số tổ chức và báo chí thế giới dẫn lại, Ấn Độ chiếm 98 trong số 100 thành phố nóng nhất thế giới. Trong một bài phát biểu trước công chúng ở Ấn Độ, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio phàn nàn: "Tôi muốn nói ngắn gọn thôi vì trời quá nóng, nóng kinh khủng!" Các sinh viên nước ngoài đang học tập tại Ấn Độ thậm chí còn đăng tải video ghi lại cảnh nắng nóng cực độ, nói rằng "nội tạng của họ như bị luộc chín" và họ phải trở về nhà sớm để tránh thảm họa khí hậu này. Thậm chí một số bác sĩ trong cộng đồng y tế phương Tây cũng đã đưa ra cảnh báo, cho rằng khí hậu hiện tại của Ấn Độ đang tiến gần đến ngưỡng nguy hiểm cho sự sống còn của con người, và một người trưởng thành có thể chết đột ngột chỉ trong vòng nửa giờ trong môi trường ngoài trời như vậy mà không có bóng râm hoặc nước uống. Ấn Độ hiện đang trải qua thời kỳ hỗn loạn, với tình trạng mất điện trên diện rộng, bệnh viện đóng cửa và thiếu nước trầm trọng. Hàng loạt người dân Ấn Độ đang tranh giành nước ở các ao hồ và vũng nước bỏ hoang, và nguy cơ sụp đổ trật tự xã hội nghiêm trọng đang cận kề! Chứng kiến tình trạng này, chắc hẳn nhiều người sẽ nghĩ rằng tất cả là do thiên tai, với sự kết hợp giữa hiện tượng nóng lên toàn cầu và El Niño gây ra nhiệt độ cao bất thường ở Ấn Độ. Nhưng trên thực tế, thảm họa này ở Ấn Độ không chỉ đơn thuần là một hiện tượng khí tượng; đó là một thảm họa do con người gây ra, xuất phát từ sự thất bại hoàn toàn trong quản trị xã hội. Bi kịch lớn nhất đối với người dân Ấn Độ là, ngay cả đến năm 2026, năng lực quản trị xã hội và phát triển công nghiệp của họ vẫn còn mắc kẹt ở thế kỷ trước! Đừng nghĩ những câu viết trên là phóng đại; hãy cùng xem xét một số hành vi thái quá và thiển cận của Ấn Độ!
Hành vi thiển cận đầu tiên: phá rừng trên quy mô lớn. Trong khi Trung Quốc liên tục trồng cây, cải tạo sa mạc và quản lý nguồn nước sông Hoàng Hà, bạn có biết người Ấn Độ đang làm gì không? Câu trả lời là sự tàn phá thảm thực vật trên quy mô lớn. Theo thống kê, chỉ riêng trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2023, Ấn Độ đã chặt phá 2,33 triệu ha rừng, tương đương với việc san bằng toàn bộ thảm thực vật ở Ninh Hạ, Trung Quốc.
Có hai lý do chính khiến Ấn Độ có thể làm như vậy: Thứ nhất, người dân địa phương quá nghèo không đủ khả năng mua than đá hoặc khí đốt tự nhiên, và họ phải dùng củi làm nhiên liệu sinh hoạt hàng ngày. Chính phủ Ấn Độ làm ngơ trước thực trạng này để việc quản lý dễ dàng hơn. Thứ hai, để đảm bảo các đơn đặt hàng sản xuất đồ nội thất từ châu Âu và Hoa Kỳ và để kiếm tiền nhanh chóng, Ấn Độ đã khai thác quá mức tài nguyên rừng của mình trên quy mô lớn. Chính phủ đã đi đầu trong việc chặt phá cây cối, điều này đã gây ra một làn sóng chặt phá rừng trên toàn quốc. Mô hình phát triển này, dựa trên di sản của tổ tiên và cắt đứt tương lai của con cháu, đã phá hủy hoàn toàn môi trường sinh thái của Ấn Độ. Kết quả là, đất đai của Ấn Độ đã mất đi rào cản tự nhiên hiệu quả nhất để làm mát, và thiếu đi sự điều tiết khí hậu của thảm thực vật, nhiệt độ bề mặt của Ấn Độ đã tăng vọt.
Hành vi thiển cận thứ hai: bỏ bê các dự án bảo tồn nguồn nước. Biến đổi khí hậu sẽ không phải là vấn đề nghiêm trọng nếu nguồn nước dồi dào. Xét cho cùng, miễn là có nước uống và nguồn nước tưới tiêu, trật tự xã hội của Ấn Độ sẽ không sụp đổ. Tuy nhiên, vấn đề là Ấn Độ không ưu tiên các dự án bảo tồn nguồn nước. Vào những năm 1970 và 1980, khi chứng kiến dự án "Chuyển hướng nước từ Nam ra Bắc" của Trung Quốc, Ấn Độ cũng đề xuất "Kế hoạch kết nối các con sông nội địa". Họ lên kế hoạch kết nối tất cả các con sông ở Ấn Độ để có thể phân bổ linh hoạt nguồn nước trong trường hợp thiếu nước trong tương lai nhằm đối phó với các điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Giờ đây, hơn 40 năm đã trôi qua, và Dự án Chuyển nước Nam-Bắc của Trung Quốc đã mang lại lợi ích cho hàng trăm triệu người, nhưng Dự án Kết nối Đường thủy Nội địa của Ấn Độ vẫn đang bị mắc kẹt ở giai đoạn lập kế hoạch. Tại sao lại như vậy? Lý do đầu tiên là do có sự xung đột lợi ích giữa các bang khác nhau ở Ấn Độ. Các bên không muốn đạt được sự đồng thuận về việc phân bổ tài nguyên nước. Một số bang cho rằng, "Tại sao nước của chúng tôi lại phải được cung cấp cho các ông?" Lý do thứ hailà vấn đề xem xét và ngân sách. Quy trình xem xét rất phức tạp và nguồn tài chính không đủ. Nếu bất kỳ khâu nào bị gián đoạn, mọi người sẽ tạm dừng vấn đề. Lý do thứ ba là lưới điện của Ấn Độ rất dễ bị tổn thương, và khó có thể duy trì ngay cả mức tiêu thụ năng lượng cần thiết để vận hành các trạm bơm cơ bản. Do đó, nhiều dự án thủy lợi đơn giản là không đáp ứng được các điều kiện cơ bản để xây dựng. Vì nhiều lý do, khả năng cung cấp nước của Ấn Độ vô cùng dễ bị tổn thương. Mỗi khi nhiệt độ cao, người dân Ấn Độ phải mang xô và thùng nước đến những nơi cách xa hơn mười ki-lô-mét để tìm nước. Nếu không lấy được nước từ sông Hằng, họ chỉ có thể tìm nước ở những ao hồ bỏ hoang và mương rãnh nước thải. Với chất lượng nước như vậy, bạn có thể hiểu tại sao Ấn Độ thường xuyên gặp vấn đề về nhiễm trùng do vi khuẩn và ký sinh trùng.
Hành vi thiển cận thứ ba: bỏ bê kỹ thuật điện. Ấn Độ, một quốc gia với dân số 1,4 tỷ người, thường xuyên phải trải qua tình trạng mất điện trên diện rộng. Mỗi mùa hè, hệ thống lưới điện của họ đều bị tê liệt. Vào ngày 21 tháng 5 năm nay, một vụ mất điện trên toàn quốc đã xảy ra do nguồn cung cấp điện không đủ. Ở các thành phố, tình trạng mất điện chỉ kéo dài từ 3-5 giờ mỗi ngày, nhưng ở vùng nông thôn, tình trạng mất điện kéo dài hơn 10 giờ mỗi ngày là điều thường xuyên xảy ra. Hơn nữa, không chỉ các hộ gia đình bị mất điện; ngay cả các bệnh viện cũng không thể đảm bảo nguồn điện cơ bản. Một số bệnh nhân bị say nắng đã tử vong vì nắng nóng trong bệnh viện, một số phụ nữ mang thai sinh non do nắng nóng trong phòng sinh, và ngay cả nhà xác của họ cũng không thể duy trì nhiệt độ thấp ổn định. Đối với các nhà máy, tình hình thậm chí còn tồi tệ hơn. Bất cứ khi nào xảy ra khủng hoảng năng lượng hoặc nhiệt độ cao, các nhà máy ở Ấn Độ sẽ đồng loạt đóng cửa, đơn đặt hàng không thể được giao, công nhân mất thu nhập, họ sẽ xuống đường biểu tình, và các cuộc bạo loạn sẽ dẫn đến xung đột quy mô lớn. Đây là chuyện thường tình ở Ấn Độ. Tại sao Ấn Độ không xây dựng lưới điện? Tại sao họ không sử dụng công nghệ điện áp cực cao để mang lại lợi ích cho người dân? Câu trả lời rất đơn giản: họ không có tiền. Và đó là bởi vì người dân
Ấn Độ đang đón nhận hệ thống dân chủ của họ! Một số người không thể hiểu điều này. Ấn Độ là nền kinh tế lớn thứ năm thế giới, vậy tại sao nước này lại không có tiền cho các dự án thủy lợi hay xây dựng lưới điện? Tiền của họ đi đâu hết? Câu trả lời là họ đang chi một khoản tiền khổng lồ cho cuộc chạy đua vũ trụ, cố gắng cạnh tranh với Mỹ và Trung Quốc để xem ai sẽ đặt chân lên mặt trăng trước. Họ cũng thường xuyên lôi kéo các nước phương Tây vào các cuộc tập trận quân sự, chi hàng trăm tỷ đô la mỗi năm để mua vũ khí từ châu Âu và Mỹ để tự vệ, và thậm chí thường xuyên gây rối ở biên giới, tạo ra nhiều xung đột không cần thiết để đánh lạc hướng sự chú ý khỏi các vấn đề trong nước. Thành thật mà nói, một quốc gia với hàng trăm triệu người mù chữ và 300 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, thay vì tập trung vào phát triển kinh tế và quan tâm đến việc người dân có chết vì nắng nóng hay không, lại dồn năng lượng và nguồn lực hạn chế của mình vào cuộc chạy đua vũ trụ và các xung đột khu vực. Đây là một trường hợp điển hình của việc đặt xe trước ngựa. Trung Quốc đã làm gì ở cùng giai đoạn đó? Nước láng giềng của Việt Nam đã thực hiện giáo dục bắt buộc trên toàn quốc, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo cho tất cả mọi người, xây dựng đập Tam Hiệp, triển khai dự án chuyển nước từ Nam ra Bắc và xây dựng dự án vành đai chắn gió Ba miền Bắc... Một sự so sánh sẽ cho thấy rõ rằng khoảng cách lớn nhất giữa Ấn Độ và Trung Quốc chưa bao giờ nằm ở điểm xuất phát, mà là ở việc Ấn Độ chưa bao giờ thực sự đặt con người lên hàng đầu. Suy cho cùng, chỉ khi nào Ấn Độ đặt con người vào trái tim mình, Ấn Độ mới có thể hoàn thành những dự án vĩ đại đó. Hơn nữa, điều khiến Ấn Độ tuyệt vọng nhất không phải là vấn đề khí hậu hiện tại, mà là thực tế tình hình của họ có khả năng sẽ trở nên tồi tệ hơn trong tương lai. Đầu tiên là biến đổi khí hậu. Các chỏm băng ở Bắc Cực và Nam Cực đang tan chảy nhanh chóng, rừng mưa nhiệt đới của Brazil đang thu hẹp lại, và các vùng khí hậu đang dịch chuyển về phía bắc. Điều này có nghĩa là nhiệt độ cao ở Ấn Độ sẽ ngày càng khắc nghiệt hơn trong tương lai, và nhiệt độ trên 50°C có thể trở thành điều bình thường trong mùa hè ở nước này.
Tiếp theo là vấn đề phát triển công nghiệp. Thế giới hiện đang phát triển ngành công nghiệp trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng Ấn Độ lại thiếu tất cả các khả năng thiết yếu cần thiết cho sự phát triển AI: cung cấp điện, cung cấp nước, tản nhiệt và sản xuất chip. Có thể hình dung rằng trong 10-20 năm tới, Ấn Độ rất có thể sẽ tụt hậu trong phát triển, và cuộc cách mạng AI có thể gây ra tác động nghiêm trọng đến dân số khổng lồ của họ! Nói thẳng ra, thảm họa sóng nhiệt này là một tấm gương phản chiếu không chỉ vấn đề khí hậu của Ấn Độ mà còn cả bản chất của cuộc cạnh tranh quyền lực toàn cầu trong tương lai. Ấn Độ đang dạy cho thế giới một bài học đẫm máu rằng sự hưng thịnh và suy tàn của một quốc gia và một nền văn minh không phụ thuộc vào sức mạnh quân sự và kinh tế, mà phụ thuộc vào khả năng sống hài hòa với thiên nhiên và đảm bảo sự sống còn cơ bản của người dân. Trong những thập kỷ tới, cuộc cạnh tranh lớn nhất trên thế giới sẽ không phải là về việc ai có máy bay lớn hơn hay pháo mạnh hơn, mà là về việc ai có thể cung cấp cho người dân của mình thực phẩm tốt hơn và cuộc sống tốt hơn!
Các giai đoạn tăng trưởng của mô hình kinh tế phương Tây: - 1950-70: Tăng trưởng thực - công nghiệp, hạ tầng, tầng lớp trung lưu - 1980-90: Tăng trưởng bằng tự do hóa tài chính - còn tạo ra của cải thực - 2000-10: Tăng trưởng bằng nợ - vay từ tương lai - 2010-20: Tăng trưởng bằng in tiền tạo ra ảo giác của cải từ không khí bằng cách nới lỏng định lượng và lãi suất = 0 -> doanh nghiệp không có lãi thật tức không tạo ra của cải tích lũy (khác với của cải tiêu thụ hết) nhưng vẫn sống được. - 2020+: Không còn công cụ, hộp công cụ đã được dùng hết - lạm phát chặn in tiền, nợ chặn vay thêm. Và xung đột quốc tế (chi tiêu quân sự) là công cụ tài khóa cuối cùng mà chính trị còn chấp nhận được để bơm tiền vào kinh tế mà không bị gọi là "xã hội chủ nghĩa". Dĩ nhiên, tăng trưởng chậm dần cho tới khi gặp đại khủng hoảng tài chính, đưa tới đâu chưa có câu trả lời. Trong khi đó, TQ vẫn tăng trưởng vì những của cải thực tích lũy được vẫn còn chưa được tạo ra: - Hàng trăm triệu người còn chưa được đô thị hóa hoàn toàn - Hạ tầng nội địa còn thiếu ở miền Tây và miền Trung - Công nghệ còn đang bắt kịp (và vượt ở nhiều lĩnh vực) - Tiêu dùng nội địa còn chưa phát huy hết Đây là tăng trưởng tạo ra của cải thực - không phải tăng trưởng tài chính ảo. Còn phương Tây, có thể nói nôm na, đã hết nấc! Phạm Chân Dũng
Khoảng năm 1980-1990, bác Dũng viết "tự do hóa tài chính vẫn còn tạo ra của cải thực"là đúng nhưng chưa đủ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng liên hệ giữa hội nhập tài chính và tăng trưởng không hề chắc chắn, trong khi mức độ bất ổn tài chính lại tăng lên; đây cũng là thời kỳ hình thành nhiều mất cân đối dẫn đến khủng hoảng nợ, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiền tệ về sau. Ngoài ra, tăng trưởng của phương Tây thời đó không chỉ nhờ tài chính hóa mà còn nhờ CNTT, Internet, mạng,... dẫn đến tăng năng suất, toàn cầu hóa sản xuất, thương mại, và cải tiến năng suất.
Khoảng năm 2000-2010: "tăng trưởng bằng nợ, vay từ tương lai" Điều này đúng khá mạnh đối với không ít nước, nhưng không đồng đều cho toàn bộ phương Tây. Ở Mỹ, Tây Ban Nha, Ireland, Anh… giai đoạn trước 2008 đúng là có sự bùng nổ của tín dụng tư nhân, bất động sản và đòn bẩy tài chính; cú sập 2008 cho thấy phần tăng trưởng đó chứa nhiều yếu tố "vay trước tương lai" như bác Dũng nói. Tuy nhiên, một số nền kinh tế châu Âu như Đức dựa nhiều hơn vào xuất khẩu, năng lực công nghiệp và kỷ luật chi phí hơn là bong bóng tín dụng nội địa. Từ 2000 trở đi, nhận xét nợ hóa cũng có cơ sở. Ví dụ dữ liệu FRED/World Bank cho OECD cho thấy nợ trung ương/GDP của nhóm OECD khoảng 51% năm 2000, tăng lên 90% năm 2010, rồi lên khoảng 126% năm 2020 trước khi giảm còn khoảng 112% năm 2022. Đây chưa tính đầy đủ nợ tư nhân, nợ bất động sản, nợ doanh nghiệp và các cam kết phúc lợi tương lai.
Khoảng năm 2010-2020: "in tiền tạo ảo giác của cải; doanh nghiệp không lãi thật vẫn sống được" Đúng là sau 2008, rồi đặc biệt trong giai đoạn lãi suất gần 0 và QE, các NHTW lớn đã nới lỏng tiền tệ ở quy mô chưa từng có. Các biện pháp này hỗ trợ giá tài sản, giảm chi phí vốn và giữ hệ thống tài chính không sụp.
Cũng đúng là có bằng chứng cho thấy môi trường lãi suất thấp kéo dài có liên hệ với sự gia tăng của các zombie firms, và các doanh nghiệp loại này có thể làm giảm năng suất, đầu tư và tái phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. BIS và OECD đều có nghiên cứu khá rõ về điểm này.
QE và lãi suất thấp làm giá tài sản tăng: cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản. Khi giá tài sản tăng nhanh hơn năng suất, người nắm tài sản cảm thấy giàu hơn, nhưng đó có thể là hiệu ứng định giá, không phải sản xuất thêm hàng hóa, nhà máy, công nghệ hay năng lực lao động.
Tuy vậy, IMF và Fed đều nhấn mạnh QE có thể nâng sản lượng và lạm phát trong suy thoái sâu, tức là nó không phải hoàn toàn ảo, mà là công cụ ổn định vĩ mô có tác dụng thật, dù có tác dụng phụ và hiệu quả giảm dần theo thời gian. Ngoài ra, đúng là phần ảo rất nhiều, nhưng cũng có phần thật. Ví dụ trong giai đoạn 2010-2020 này, Mỹ vẫn tạo ra giá trị thật trong phần mềm, bán dẫn thiết kế, cloud, AI, dược phẩm, hàng không, năng lượng, logistics, nông nghiệp công nghệ cao. Châu Âu vẫn có công nghiệp máy móc, hóa chất, dược, thiết bị y tế, hàng không, luxury, năng lượng tái tạo, quốc phòng. Dù tăng trưởng chậm, và tỷ lệ ít, nhưng cũng đến nối 100% đều là ảo. Mặc dù phần biên của nền kinh tế bị méo: vốn rẻ làm doanh nghiệp yếu sống lâu hơn, thị trường bất động sản và tài sản tài chính phình to, còn năng suất toàn nền kinh tế tăng chậm.
Dù thế nào thì giai đoạn này cũng là suy giảm năng suất. IMF ghi nhận tăng trưởng năng suất toàn cầu, đặc biệt ở các nền kinh tế phát triển, giảm mạnh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và vốn đã chậm lại trước đó
Giai đoạn 2020+: "hộp công cụ đã hết; chiến tranh là công cụ tài khóa cuối cùng" Không rõ hộp công cụ đây là gì? Nếu đó là hộp công cụ tài chính thì vẫn còn, ví dụ như vẫn còn tái phân bổ chi tiêu, cải cách cơ cấu, đầu tư công có mục tiêu, chính sách công nghiệp, năng lượng, hạ tầng số, giáo dục, cạnh tranh, điều tiết tài chính, v.v. Tuy nhiên, cái đúng ở đây đó là những công cụ rẻ và dễ dùng nhất đã kém hiệu quả hơn trước, mỗi công cụ đều có giá chính trị và tài chính cao hơn trước, những công cụ hiệu dụng ngày càng ít, dù có lẽ chưa đến mức hết sạch công cụ Vì lạm phát 2021-2022, các ngân hàng trung ương không thể tiếp tục lãi suất 0 và QE như cũ, ECB bắt đầu chu kỳ thắt chặt từ cuối 2021/2022, còn Fed cũng chuyển sang thu hẹp bảng cân đối từ 2022.
Nhìn chung những gì bài viết này ý tưởng chung là đúng, nhưng có phần cường điệu hóa hơn trước, nhưng xu hướng của kinh tế phương Tây thì đúng.
Kênh đào 10 tỷ USD của Trung Quốc đi vào thử nghiệm
Kênh đào Bình Lục với vốn đầu tư hơn 10 tỷ USD đã hoàn tất việc dẫn nước vào kênh và bước vào giai đoạn vận hành thử nghiệm.
Kênh đào Bình Lục, siêu dự án tại Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, phía nam Trung Quốc, ngày 3/6 hoàn tất việc dẫn đầy nước vào hai trong số ba âu tàu chính là Mã Đạo và Xí Thạch, giúp thông thủy toàn kênh và bắt đầu quá trình vận hành thử nghiệm.
Theo Tập đoàn Kênh đào Bình Lục, với hơn 96% khối lượng dự án đã hoàn thành, tuyến đường thủy này sẽ khai trương trong thời gian diễn ra Hội chợ Triển lãm Trung Quốc - ASEAN vào tháng 9 tới tại Nam Ninh, thủ phủ tỉnh Quảng Tây.
Âu tàu Mã Đạo thuộc kênh đào Bình Lục ở tỉnh Quảng Tây ngày 3/6. Ảnh:Xinhua
Có cái video trong bài báo thông tin đầy đủ và trực quan hơn: