Theo dõi diễn biến ...
 
Notifications
Clear all

Theo dõi diễn biến nóng khu vực Châu Á: sự đối đầu giữa Trung Quốc, Triều Tiên với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan... Vol. 2

1,376 Bài viết
42 Thành viên
2416 Reactions
44.9 K Lượt xem
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

@a98 @hatam @ktqsminh @ngo-rung @meotamthe @elevonic

Từ khi tôi đăng mấy bài phê phán người Nhật, nhiều người xông vào chửi tôi như lên đồng. Bây giờ tôi mới nghĩ ra. Nhật Bản cũng như Hàn Quốc, Đài Loan và một số nước châu Á khác rất giỏi hối lộ mua chuộc người bản xứ để có lợi cho mình; do đó hầu hết những người chửi tôi đều là người đang sống dựa vào người Nhật, dựa vào công ty Nhật, và với tư duy ăn cây nào rào cây đấy, họ phải bảo vệ những ông chủ của mình bằng mọi giá, kể cả bằng những hình thức vô liêm sỉ nhất.
Bài dưới đây viết chính xác về nền kinh tế đang lụn bại của Nhật Bản trong ba thập kỷ gần đây. Tôi thích nhất câu cuối cùng viết về một loạt thương hiệu và công ty Nhật Bản đã biến mất hoặc phải bán mình cho nước ngoài. Rất nhiều thương hiệu nổi tiếng của Nhật Bản đã phá sản, góp công lớn vào sự sụp đổ toàn diện của nền kinh tế này.
Bài viết cũng khẳng định Honda coi người Việt Nam là con bò để chúng vắt sữa, chúng nhập linh kiện giá rẻ của Trung Quốc vào Việt Nam rồi lắp ráp và bán xe chất lượng kém với giá gấp đôi xe Vin, dù giá xe Vin đã rất cao.
Nhìn lại gần 50 năm Honda bán xe bãi rác rồi xe lắp ráp cho Việt Nam kiếm được vô số tiền, biến Việt Nam thành vương quốc xe máy độc nhất vô nhị trên thế giới trong khi hoàn toàn không chuyển giao công nghệ cho người Việt Nam, tôi thấy lãnh đạo Honda là một lũ khốn nạn. Người Nhật đã làm rất nhiều điều xấu xa ở Việt Nam nên tôi mới ghét.

BÁO CHÍ NHẬT BẢN: HONDA ĐANG THẤT BẠI Ở TRUNG QUỐC VÀ ĐANG DẦN ĐỐI DIỆN VỚI THÊM MỘT THẤT BẠI KHÁC Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Tờ báo Nhật Bản Nikkei Asian chuyên sâu về kinh tế, tài chính, công nghiệp có những nhận định rất đáng chú ý về thực trạng Honda đang phải đối mặt ở thị trường Việt Nam. Honda đã đánh giá sai chính sách điện khí hóa, chuyển đổi xanh của chính phủ Việt Nam và hiện đang tụt hậu. Mặc dù Honda đã tiếp cận chính sách chuyển đổi xanh từ hơn 15 năm trước, nhưng họ lại dường như không quan tâm vì nguồn lợi thu được từ xe máy xăng là quá lớn.
Nhà báo Miyake Itsuki đến thăm một tòa nhà văn phòng ở Hà Nội và thấy một bãi gửi xe toàn VinFast. Bảo vệ cho biết trước đây, chỉ có chưa đầy 10 chiếc xe VinFast. Năm 2025, doanh số xe máy điện của Vinfast là 400 ngàn xe. Nhưng chỉ trong tháng 3/2026, VinFast bán được hơn 93 ngàn xe và có đơn đặt hàng 150 ngàn xe.
Nikkei cho biết Việt Nam là “con bò sữa” của Honda. Ví dụ này rất thời sự, khi Honda cứ liên tục “vắt sữa” nhưng lại không chăm lo cho “con bò” ấy đúng mực. Tờ báo Nhật Bản đánh giá Honda đã coi thường quyết tâm của VinFast và phản ứng vô cùng chậm chạp với các động thái của VinFast. Đích thân cán bộ cấp cao của Honda phải thừa nhận: “Chúng tôi thực sự không ngờ quá trình điện khí hóa lại diễn ra nhanh chóng đến vậy:”
Ngoài việc phản ứng chậm chạp, Honda cũng tỏ ra là không thấu hiểu thị trường Việt Nam. Honda đã phải tìm đến linh kiện giá rẻ từ Trung Quốc nhưng lại bán những mẫu xe cấu hình thấp mà mức giá rất cao. Nikkei cũng chỉ ra những mẫu xe của Honda có giá gấp đôi nhưng phạm vi quãng đường chỉ bằng một nửa các mẫu xe của VinFast.
Các trạm sạc mà Honda cam kết lắp đặt ở Việt Nam cũng không thấy xuất hiện. Honda từng hứa hẹn sẽ lắp đặt hàng ngàn trạm sạc CHAdeMO (công nghệ sạc pin Nhật Bản) nhưng gần như người tiêu dùng Việt Nam không hề được thấy. Thay vì đó, người tiêu dùng lại thấy các trạm sạc của VinFast được lắp đặt khắp nơi.
Nhà nghiên cứu Takaki Nakanishi, Viện nghiên cứu công nghiệp Nhật Bản chỉ ra rằng Honda đang dùng lợi nhuận của xe hai bánh để bù đắp cho xe bốn bánh. Tại Việt Nam, xe ô tô Honda đã bị VinFast vượt mặt rất xa và phải chịu doanh số giảm mạnh và xe máy đang phải chịu cạnh tranh gay gắt. Kịch bản này cũng lặp lại ở Trung Quốc và Ấn Độ, khi Honda chịu thất bại trước các hãng nội địa.
Nikkei kết luận rằng việc Honda có tồn tại được hay không là nhờ điện khí hóa xe điện hai bánh khi mà Honda có nền tảng và giá trị thương hiệu lớn.
Và tất nhiên, nếu thất bại, Honda có thể sẽ biến mất hoặc chịu bán mình như biết bao nhiêu thương hiệu Nhật Bản lừng danh khác như Daihatsu, Sanyo, Toshiba, Sharp…

(Lê Việt Đức)


   
meotamthe, Leo77, is3 and 1 people reacted
Trả lờiTrích dẫn
(@long-hoa)
Thiếu niên
Cư dân
Tài sản: 2675.98
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 432
 

Đăng bởi: @langtubachkhoa

@a98 @hatam @ktqsminh @ngo-rung @meotamthe @elevonic

Từ khi tôi đăng mấy bài phê phán người Nhật, nhiều người xông vào chửi tôi như lên đồng. Bây giờ tôi mới nghĩ ra. Nhật Bản cũng như Hàn Quốc, Đài Loan và một số nước châu Á khác rất giỏi hối lộ mua chuộc người bản xứ để có lợi cho mình; do đó hầu hết những người chửi tôi đều là người đang sống dựa vào người Nhật, dựa vào công ty Nhật, và với tư duy ăn cây nào rào cây đấy, họ phải bảo vệ những ông chủ của mình bằng mọi giá, kể cả bằng những hình thức vô liêm sỉ nhất.
Bài dưới đây viết chính xác về nền kinh tế đang lụn bại của Nhật Bản trong ba thập kỷ gần đây. Tôi thích nhất câu cuối cùng viết về một loạt thương hiệu và công ty Nhật Bản đã biến mất hoặc phải bán mình cho nước ngoài. Rất nhiều thương hiệu nổi tiếng của Nhật Bản đã phá sản, góp công lớn vào sự sụp đổ toàn diện của nền kinh tế này.
Bài viết cũng khẳng định Honda coi người Việt Nam là con bò để chúng vắt sữa, chúng nhập linh kiện giá rẻ của Trung Quốc vào Việt Nam rồi lắp ráp và bán xe chất lượng kém với giá gấp đôi xe Vin, dù giá xe Vin đã rất cao.
Nhìn lại gần 50 năm Honda bán xe bãi rác rồi xe lắp ráp cho Việt Nam kiếm được vô số tiền, biến Việt Nam thành vương quốc xe máy độc nhất vô nhị trên thế giới trong khi hoàn toàn không chuyển giao công nghệ cho người Việt Nam, tôi thấy lãnh đạo Honda là một lũ khốn nạn. Người Nhật đã làm rất nhiều điều xấu xa ở Việt Nam nên tôi mới ghét.

BÁO CHÍ NHẬT BẢN: HONDA ĐANG THẤT BẠI Ở TRUNG QUỐC VÀ ĐANG DẦN ĐỐI DIỆN VỚI THÊM MỘT THẤT BẠI KHÁC Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Tờ báo Nhật Bản Nikkei Asian chuyên sâu về kinh tế, tài chính, công nghiệp có những nhận định rất đáng chú ý về thực trạng Honda đang phải đối mặt ở thị trường Việt Nam. Honda đã đánh giá sai chính sách điện khí hóa, chuyển đổi xanh của chính phủ Việt Nam và hiện đang tụt hậu. Mặc dù Honda đã tiếp cận chính sách chuyển đổi xanh từ hơn 15 năm trước, nhưng họ lại dường như không quan tâm vì nguồn lợi thu được từ xe máy xăng là quá lớn.
Nhà báo Miyake Itsuki đến thăm một tòa nhà văn phòng ở Hà Nội và thấy một bãi gửi xe toàn VinFast. Bảo vệ cho biết trước đây, chỉ có chưa đầy 10 chiếc xe VinFast. Năm 2025, doanh số xe máy điện của Vinfast là 400 ngàn xe. Nhưng chỉ trong tháng 3/2026, VinFast bán được hơn 93 ngàn xe và có đơn đặt hàng 150 ngàn xe.
Nikkei cho biết Việt Nam là “con bò sữa” của Honda. Ví dụ này rất thời sự, khi Honda cứ liên tục “vắt sữa” nhưng lại không chăm lo cho “con bò” ấy đúng mực. Tờ báo Nhật Bản đánh giá Honda đã coi thường quyết tâm của VinFast và phản ứng vô cùng chậm chạp với các động thái của VinFast. Đích thân cán bộ cấp cao của Honda phải thừa nhận: “Chúng tôi thực sự không ngờ quá trình điện khí hóa lại diễn ra nhanh chóng đến vậy:”
Ngoài việc phản ứng chậm chạp, Honda cũng tỏ ra là không thấu hiểu thị trường Việt Nam. Honda đã phải tìm đến linh kiện giá rẻ từ Trung Quốc nhưng lại bán những mẫu xe cấu hình thấp mà mức giá rất cao. Nikkei cũng chỉ ra những mẫu xe của Honda có giá gấp đôi nhưng phạm vi quãng đường chỉ bằng một nửa các mẫu xe của VinFast.
Các trạm sạc mà Honda cam kết lắp đặt ở Việt Nam cũng không thấy xuất hiện. Honda từng hứa hẹn sẽ lắp đặt hàng ngàn trạm sạc CHAdeMO (công nghệ sạc pin Nhật Bản) nhưng gần như người tiêu dùng Việt Nam không hề được thấy. Thay vì đó, người tiêu dùng lại thấy các trạm sạc của VinFast được lắp đặt khắp nơi.
Nhà nghiên cứu Takaki Nakanishi, Viện nghiên cứu công nghiệp Nhật Bản chỉ ra rằng Honda đang dùng lợi nhuận của xe hai bánh để bù đắp cho xe bốn bánh. Tại Việt Nam, xe ô tô Honda đã bị VinFast vượt mặt rất xa và phải chịu doanh số giảm mạnh và xe máy đang phải chịu cạnh tranh gay gắt. Kịch bản này cũng lặp lại ở Trung Quốc và Ấn Độ, khi Honda chịu thất bại trước các hãng nội địa.
Nikkei kết luận rằng việc Honda có tồn tại được hay không là nhờ điện khí hóa xe điện hai bánh khi mà Honda có nền tảng và giá trị thương hiệu lớn.
Và tất nhiên, nếu thất bại, Honda có thể sẽ biến mất hoặc chịu bán mình như biết bao nhiêu thương hiệu Nhật Bản lừng danh khác như Daihatsu, Sanyo, Toshiba, Sharp…

(Lê Việt Đức)

Nhờ Honda du nhập vào Việt Nam những năm 1996 thì nước Việt Nam mới hóa rồng hóa hổ sánh ngang với các cường quốc năm châu đấy.

Nhật có công lao quá lớn trong việc vực dậy tái thiết kinh tế Việt Nam sau chiến tranh với Mỹ.

kẻ thù duy nhất của Việt Nam mới là tàu chứ không phải Mỹ hay Nhật, kẻ đã khiến cho kinh tế Việt Nam điêu đứng.

chính Tàu nó đã tuyên truyền vu khống Việt Nam mới khiến Việt Nam bị cấm vận đến tận năm 1995.

 


   
Trả lờiTrích dẫn
 is3
(@is3)
Thanh niên
Được ưa thích
Cư dân
Tài sản: 4362.4
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 509
 

https://vnexpress.net/trung-quoc-tuyen-an-tu-hinh-treo-voi-hai-cuu-bo-truong-quoc-phong-5071239.html

Trung Quốc tuyên án tử hình treo với hai cựu bộ trưởng quốc phòng

Tòa án quân sự Trung Quốc tuyên án tử hình treo đối với cựu bộ trưởng quốc phòng Ngụy Phượng Hòa và Lý Thượng Phúc vì hành vi tham nhũng.


   
meotamthe reacted
Trả lờiTrích dẫn
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 196476.75
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 16774
 

Cuộc tập trận Balikatan 2026: Quân đội Mỹ sử dụng máy bay không người lái tấn công FPV chống lại mô hình xe chiến đấu bộ binh lội nước Type 05 của Trung Quốc.

photo 1 2026 05 08 14 21 47
photo 2 2026 05 08 14 21 47

Không xem được video? Hãy đăng ký https://t.me/tintucthoisu


   
is3 reacted
Trả lờiTrích dẫn
quangsot
(@quangsot-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2-2)
Lão niên
Cú nhóm giường bệnh
Được ưa thích
Khá giả rank 1
Tài sản: 196476.75
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 16774
 

Đăng bởi: @is3

https://vnexpress.net/trung-quoc-tuyen-an-tu-hinh-treo-voi-hai-cuu-bo-truong-quoc-phong-5071239.html

Trung Quốc tuyên án tử hình treo với hai cựu bộ trưởng quốc phòng

Tòa án quân sự Trung Quốc tuyên án tử hình treo đối với cựu bộ trưởng quốc phòng Ngụy Phượng Hòa và Lý Thượng Phúc vì hành vi tham nhũng.

Trung Quốc đã gửi một thông điệp mạnh mẽ và hiếm hoi tới toàn bộ giới tinh hoa.

Ngày 7 tháng 5, Tòa án Quân sự Trung Quốc đã tuyên án cựu bộ trưởng quốc phòng Wei Fenghe và Li Shangfu. Cả hai đều bị kết tội tham nhũng và nhận án tử hình với thời gian ân xá hai năm, tước quyền chính trị suốt đời và tịch thu toàn bộ tài sản.

Sau khi án tử hình được giảm nhẹ, họ sẽ phải chịu án tù chung thân không được ân xá.

Điều đặc biệt mang tính biểu tượng là những người bị nhắm đến là những người cho đến gần đây vẫn kiểm soát quân đội của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, và theo một số nguồn tin, là lớn nhất, và đại diện cho Trung Quốc trên trường quốc tế. Đối với Tập Cận Bình, đây không chỉ là vấn đề tham nhũng mà còn là vấn đề kiểm soát quân đội, lòng trung thành cá nhân và an ninh quốc gia.

Trong bối cảnh đối đầu toàn cầu, căng thẳng xung quanh Đài Loan và sự tái cấu trúc hệ thống toàn cầu, Bắc Kinh đang làm rõ rằng không còn bất kỳ "kẻ ngoài vòng pháp luật" nào trong nước.

 

Không xem được video? Hãy đăng ký https://t.me/tintucthoisu


   
is3 reacted
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

Đưa vào đây bác ạ

Đăng bởi: @friendship2k

Chả biết đưa vào đâu, em quăng đại vào đây. Ít nhiều cũng có liên quan. 

"Miễn là Mỹ vẫn giao thương quốc tế, họ sẽ phải làm ăn với chúng tôi. Chuỗi cung ứng và chất lượng sản phẩm của Trung Quốc rất tốt", Yu giải thích.

 

https://vnexpress.net/doanh-nghiep-trung-quoc-chai-li-voi-su-de-doa-cua-my-5070924.html

 

Lợi thế quy mô sản xuất và chuỗi cung ứng đa dạng khiến các hãng xuất khẩu Trung Quốc không còn quá lo ngại trước chính sách của Mỹ như năm ngoái.

 


   
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

Chắc bác nhầm topic, cần đưa vào đây chứ?

Đăng bởi: @meotamthe

ứng dụng robot và AI đang ngày càng cuồng nhiệt

Robot của Unitree làm người ta nghĩ đến các võ sư Kungfu

https://youtu.be/JZllfrHRc4g?si=2GW1eZjVRcYHlAsn

Robot của Trung Quốc bắt đầu đã được sử dụng ở sân bay Haneda trong kế hoạch thử nghiệm kéo dài 2 năm của JAL nhằm giảm thiểu áp lực thiếu hụt nhân lực mặt đất

https://twitter.com/i/status/2048942410550440217

Robot phục vụ tại Haidilao của Trung Quốc tại California, nhảy múa nhưng không nhận ra khoảng cách với bàn khiến 3 nhân viên phải áp sát giữ lại

https://twitter.com/i/status/2034547128010150157

 


   
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

Ôtô Trung Quốc lần đầu bán nhiều nhất tháng tại Anh
Thứ tư, 8/4/2026, 11:40 (GMT+7)
Jaecoo J7 bàn giao nhiều xe hơn Ford, Nissan, Kia, vươn lên vị trí dẫn đầu doanh số trong tháng 3.
Tổng cộng 10.064 chiếc Jaecoo J7 bán ra trong tháng 3, vượt qua 9.193 xe Ford Puma, 8.718 xe Nissan Qashqai và 7.310 xe Kia Sportage, theo SMMT (Hiệp hội các nhà sản xuất và kinh doanh ôtô). Đây là lần đầu tiên một mẫu xe đến từ Trung Quốc vươn lên dẫn đầu danh sách xe bán chạy nhất tháng tại thị trường Anh.
https://vnexpress.net/oto-trung-quoc-lan-dau-ban-nhieu-nhat-thang-tai-anh-5059914.html


   
is3 reacted
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

431 TỶ USD - LỆNH CẤM CÔNG NGHỆ TRUNG QUỐC SẼ LÀ SAI LẦM CHIẾN LƯỢC TIẾP THEO CỦA CHÂU ÂU
Sau cú sốc năng lượng Nga, châu Âu dường như đang bước lại con đường quen thuộc: cắt đứt một trụ cột kinh tế quan trọng vì áp lực địa chính trị, bất chấp cảnh báo về chi phí dài hạn. Một báo cáo mới cho thấy kế hoạch loại bỏ nhà cung cấp công nghệ Trung Quốc khỏi các lĩnh vực then chốt theo Đạo luật An ninh mạng của EU có thể khiến khối này thiệt hại tới 431 tỷ USD trong 5 năm.
Con số đó không chỉ phản ánh chi phí thiết bị, mà là một chuỗi tổn thất lan tỏa về công nghiệp, số hóa và chuyển đổi xanh. Vấn đề không còn là an ninh hay công nghệ, mà là câu hỏi căn bản: châu Âu có đủ sức chịu thêm một sự tổn thương do chính mình gây ra không?

Trong hơn một thập kỷ qua, Liên minh châu Âu thường xuyên khẳng định mục tiêu tự chủ chiến lược. Nhưng trên thực tế, nhiều quyết định lớn lại được đưa ra trong trạng thái phản ứng trước áp lực bên ngoài, hơn là dựa trên tính toán lợi ích kinh tế dài hạn. Kế hoạch loại bỏ các nhà cung cấp công nghệ Trung Quốc khỏi 18 lĩnh vực hạ tầng quan trọng theo Đạo luật An ninh mạng đang nổi lên như một ví dụ điển hình của nghịch lý đó.
Theo phân tích mới nhất do Phòng Thương mại Trung Quốc tại EU phối hợp với KPMG thực hiện, tổng chi phí kinh tế của việc “nhổ bỏ và thay thế” công nghệ Trung Quốc có thể lên tới khoảng 431 tỷ USD trong giai đoạn 5 năm. Đây không phải là con số mang tính ước đoán lỏng lẻo, mà được cấu thành từ nhiều tầng chi phí khác nhau, gắn trực tiếp với cách nền kinh tế châu Âu vận hành.
Ở tầng hiển nhiên nhất là chi phí thay thế thiết bị. Hạ tầng viễn thông, logistics, năng lượng và công nghiệp của châu Âu hiện phụ thuộc sâu vào các hệ thống được xây dựng suốt nhiều năm, trong đó công nghệ Trung Quốc không chỉ phổ biến mà còn được đánh giá là ổn định và có giá cạnh tranh.
Việc buộc phải loại bỏ những hệ thống này đồng loạt kéo theo hàng trăm tỷ USD chi cho phần cứng mới, chưa kể chi phí lắp đặt, hiệu chỉnh và đào tạo lại nhân sự kỹ thuật. Chỉ riêng việc thay thế thiết bị được ước tính đã tiêu tốn hơn 170 tỷ USD.

Nhưng chi phí thực sự lớn lại nằm ở những tổn thất ít được quan tâm. Khi chuỗi cung ứng bị xáo trộn, các dự án phải tạm dừng hoặc kéo dài, dịch vụ bị gián đoạn và doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro pháp lý, nền kinh tế bắt đầu chịu tác động theo cấp số nhân.
Báo cáo cho thấy mức thiệt hại hàng năm có thể bắt đầu ở vài chục tỷ USD ngay từ giữa thập kỷ, sau đó tăng vọt trước khi duy trì ở mức rất cao tới cuối thập niên.

Đáng chú ý hơn cả là những “tổn thất xã hội” đi kèm. Phần lớn trong số này không đến từ thất nghiệp trực tiếp, mà từ sự trì hoãn của các dự án chuyển đổi số và năng lượng xanh. Đây là nghịch lý lớn nhất của chính sách: trong khi Brussels coi số hóa và kinh tế xanh là ưu tiên sống còn, chính lệnh cấm lại làm chậm quá trình đó với chi phí ước tính vượt quá 100 tỷ USD.
Các kế hoạch nâng cấp lưới điện, triển khai công nghệ thông minh hay tự động hóa logistics đều chịu ảnh hưởng vì thiếu giải pháp thay thế có giá và hiệu suất tương đương trong ngắn hạn.
Tác động này không phân bổ đồng đều trong EU. Đức, với nền công nghiệp nặng và chuỗi logistics phức tạp nhất châu Âu, chịu cú đánh lớn nhất. Gần một nửa tổng thiệt hại được cho là dồn vào nền kinh tế Đức, không phải vì yếu kém, mà vì mức độ tích hợp sâu với công nghệ hiệu quả từ Trung Quốc.
Pháp chịu tổn thất đáng kể trong các dịch vụ công và y tế, nơi chi phí thay thế và rủi ro gián đoạn đặc biệt nhạy cảm. Tây Ban Nha đối mặt với trì hoãn trong các dự án năng lượng tái tạo, trong khi nhiều nước nhỏ hơn bị ảnh hưởng ít hơn nhưng vẫn không tránh khỏi chi phí lan tỏa ở cấp EU.

Điều khiến EU bị chỉ trích mạnh mẽ là sự chênh lệch giữa các con số này và đánh giá chính thức từ Ủy ban châu Âu. Trước đây, Brussels chủ yếu tập trung vào tác động đối với 5G, với mức chi phí được công bố chỉ vài chục tỷ USD.
Cách tiếp cận này bị cho là quá hẹp, bỏ qua hàng loạt lĩnh vực phụ trợ và hiệu ứng dây chuyền trong nền kinh tế thực. Khi mở rộng góc nhìn ra logistics, năng lượng, sản xuất và dịch vụ công, bức tranh hiện ra hoàn toàn khác.

Trong bối cảnh kinh tế châu Âu đang chịu áp lực từ tăng trưởng yếu, già hóa dân số và cạnh tranh toàn cầu gay gắt, con số 431 tỷ USD không phải là chi phí có thể dễ dàng hấp thụ. Nó gợi lại ký ức rất gần về cú sốc năng lượng Nga.
Sau nhiều năm hưởng lợi từ khí đốt giá rẻ, EU đã cắt đứt quan hệ trong thời gian ngắn dưới áp lực địa chính trị, để rồi tự đối mặt với giá năng lượng cao kỷ lục, lạm phát và suy giảm năng lực cạnh tranh công nghiệp.
Điểm tương đồng đáng lo ngại là logic quyết sách. Trong cả hai trường hợp, châu Âu đều lựa chọn “đứt gãy nhanh” vì lý do chiến lược, với niềm tin rằng chi phí có thể được kiểm soát và sẽ được bù đắp trong dài hạn.
Nhưng thực tế của năng lượng Nga cho thấy các cú sốc như vậy thường để lại hậu quả kéo dài, đặc biệt đối với công nghiệp nặng và các ngành sử dụng nhiều hạ tầng.

Đằng sau câu chuyện công nghệ là vấn đề về vị thế của châu Âu trong trật tự toàn cầu đang phân mảnh. Việc loại bỏ công nghệ Trung Quốc là sức ép ngày càng rõ từ Washington trong việc điều chỉnh chuỗi cung ứng và tiêu chuẩn an ninh theo lợi ích của Mỹ.
Với nhiều nhà quan sát, lệnh cấm này ít nhiều mang dáng dấp của một lựa chọn địa chính trị hơn là một quyết định thuần túy kinh tế – công nghệ.

Đồng thời, khi Mỹ rút dần vai trò bảo trợ an ninh và thúc đẩy các đồng minh tự chịu trách nhiệm nhiều hơn, châu Âu không chỉ gánh thêm chi phí quân sự, mà còn đối mặt với áp lực tái cấu trúc kinh tế theo các ưu tiên chiến lược của Washington.
Trong bối cảnh đó, việc cắt đứt những đối tác công nghệ hiệu quả và giá rẻ có thể làm suy yếu chính năng lực tự chủ chiến lược mà EU tuyên bố theo đuổi.

Vấn đề không nằm ở việc châu Âu có quyền quan ngại về an ninh mạng hay không. Bất kỳ nền kinh tế số nào cũng phải xử lý rủi ro an ninh. Vấn đề nằm ở cách tiếp cận.
Một chiến lược dựa trên kiểm soát rủi ro có mục tiêu rõ ràng và tiêu chuẩn kỹ thuật minh bạch khác hoàn toàn với một lệnh cấm quy mô lớn mang tính bao trùm. Khi chi phí vượt xa lợi ích chứng minh được, chính sách bắt đầu chuyển từ phòng vệ sang tự tổn hại.
Và, lệnh cấm công nghệ Trung Quốc có thể trở thành chương tiếp theo trong câu chuyện dài về cách châu Âu phản ứng chậm và trả giá cao trong kỷ nguyên địa kinh tế.
Nếu bài học từ năng lượng Nga chưa đủ, thì con số 431 tỷ USD có thể sẽ buộc EU phải đối diện một câu hỏi khó: tự chủ chiến lược đạt được bằng cách từ chối hợp tác, hay bằng cách quản lý khôn ngoan sự phụ thuộc trong một thế giới không còn lựa chọn hoàn hảo.

Trần Kiên


   
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

Đăng bởi: @langtubachkhoa

 

431 TỶ USD - LỆNH CẤM CÔNG NGHỆ TRUNG QUỐC SẼ LÀ SAI LẦM CHIẾN LƯỢC TIẾP THEO CỦA CHÂU ÂU
Sau cú sốc năng lượng Nga, châu Âu dường như đang bước lại con đường quen thuộc: cắt đứt một trụ cột kinh tế quan trọng vì áp lực địa chính trị, bất chấp cảnh báo về chi phí dài hạn. Một báo cáo mới cho thấy kế hoạch loại bỏ nhà cung cấp công nghệ Trung Quốc khỏi các lĩnh vực then chốt theo Đạo luật An ninh mạng của EU có thể khiến khối này thiệt hại tới 431 tỷ USD trong 5 năm.
Con số đó không chỉ phản ánh chi phí thiết bị, mà là một chuỗi tổn thất lan tỏa về công nghiệp, số hóa và chuyển đổi xanh. Vấn đề không còn là an ninh hay công nghệ, mà là câu hỏi căn bản: châu Âu có đủ sức chịu thêm một sự tổn thương do chính mình gây ra không?

 

Spoiler
Chi tiết

 

Trong hơn một thập kỷ qua, Liên minh châu Âu thường xuyên khẳng định mục tiêu tự chủ chiến lược. Nhưng trên thực tế, nhiều quyết định lớn lại được đưa ra trong trạng thái phản ứng trước áp lực bên ngoài, hơn là dựa trên tính toán lợi ích kinh tế dài hạn. Kế hoạch loại bỏ các nhà cung cấp công nghệ Trung Quốc khỏi 18 lĩnh vực hạ tầng quan trọng theo Đạo luật An ninh mạng đang nổi lên như một ví dụ điển hình của nghịch lý đó.
Theo phân tích mới nhất do Phòng Thương mại Trung Quốc tại EU phối hợp với KPMG thực hiện, tổng chi phí kinh tế của việc “nhổ bỏ và thay thế” công nghệ Trung Quốc có thể lên tới khoảng 431 tỷ USD trong giai đoạn 5 năm. Đây không phải là con số mang tính ước đoán lỏng lẻo, mà được cấu thành từ nhiều tầng chi phí khác nhau, gắn trực tiếp với cách nền kinh tế châu Âu vận hành.
Ở tầng hiển nhiên nhất là chi phí thay thế thiết bị. Hạ tầng viễn thông, logistics, năng lượng và công nghiệp của châu Âu hiện phụ thuộc sâu vào các hệ thống được xây dựng suốt nhiều năm, trong đó công nghệ Trung Quốc không chỉ phổ biến mà còn được đánh giá là ổn định và có giá cạnh tranh.
Việc buộc phải loại bỏ những hệ thống này đồng loạt kéo theo hàng trăm tỷ USD chi cho phần cứng mới, chưa kể chi phí lắp đặt, hiệu chỉnh và đào tạo lại nhân sự kỹ thuật. Chỉ riêng việc thay thế thiết bị được ước tính đã tiêu tốn hơn 170 tỷ USD.

Nhưng chi phí thực sự lớn lại nằm ở những tổn thất ít được quan tâm. Khi chuỗi cung ứng bị xáo trộn, các dự án phải tạm dừng hoặc kéo dài, dịch vụ bị gián đoạn và doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro pháp lý, nền kinh tế bắt đầu chịu tác động theo cấp số nhân.
Báo cáo cho thấy mức thiệt hại hàng năm có thể bắt đầu ở vài chục tỷ USD ngay từ giữa thập kỷ, sau đó tăng vọt trước khi duy trì ở mức rất cao tới cuối thập niên.

Đáng chú ý hơn cả là những “tổn thất xã hội” đi kèm. Phần lớn trong số này không đến từ thất nghiệp trực tiếp, mà từ sự trì hoãn của các dự án chuyển đổi số và năng lượng xanh. Đây là nghịch lý lớn nhất của chính sách: trong khi Brussels coi số hóa và kinh tế xanh là ưu tiên sống còn, chính lệnh cấm lại làm chậm quá trình đó với chi phí ước tính vượt quá 100 tỷ USD.
Các kế hoạch nâng cấp lưới điện, triển khai công nghệ thông minh hay tự động hóa logistics đều chịu ảnh hưởng vì thiếu giải pháp thay thế có giá và hiệu suất tương đương trong ngắn hạn.
Tác động này không phân bổ đồng đều trong EU. Đức, với nền công nghiệp nặng và chuỗi logistics phức tạp nhất châu Âu, chịu cú đánh lớn nhất. Gần một nửa tổng thiệt hại được cho là dồn vào nền kinh tế Đức, không phải vì yếu kém, mà vì mức độ tích hợp sâu với công nghệ hiệu quả từ Trung Quốc.
Pháp chịu tổn thất đáng kể trong các dịch vụ công và y tế, nơi chi phí thay thế và rủi ro gián đoạn đặc biệt nhạy cảm. Tây Ban Nha đối mặt với trì hoãn trong các dự án năng lượng tái tạo, trong khi nhiều nước nhỏ hơn bị ảnh hưởng ít hơn nhưng vẫn không tránh khỏi chi phí lan tỏa ở cấp EU.

Điều khiến EU bị chỉ trích mạnh mẽ là sự chênh lệch giữa các con số này và đánh giá chính thức từ Ủy ban châu Âu. Trước đây, Brussels chủ yếu tập trung vào tác động đối với 5G, với mức chi phí được công bố chỉ vài chục tỷ USD.
Cách tiếp cận này bị cho là quá hẹp, bỏ qua hàng loạt lĩnh vực phụ trợ và hiệu ứng dây chuyền trong nền kinh tế thực. Khi mở rộng góc nhìn ra logistics, năng lượng, sản xuất và dịch vụ công, bức tranh hiện ra hoàn toàn khác.

Trong bối cảnh kinh tế châu Âu đang chịu áp lực từ tăng trưởng yếu, già hóa dân số và cạnh tranh toàn cầu gay gắt, con số 431 tỷ USD không phải là chi phí có thể dễ dàng hấp thụ. Nó gợi lại ký ức rất gần về cú sốc năng lượng Nga.
Sau nhiều năm hưởng lợi từ khí đốt giá rẻ, EU đã cắt đứt quan hệ trong thời gian ngắn dưới áp lực địa chính trị, để rồi tự đối mặt với giá năng lượng cao kỷ lục, lạm phát và suy giảm năng lực cạnh tranh công nghiệp.
Điểm tương đồng đáng lo ngại là logic quyết sách. Trong cả hai trường hợp, châu Âu đều lựa chọn “đứt gãy nhanh” vì lý do chiến lược, với niềm tin rằng chi phí có thể được kiểm soát và sẽ được bù đắp trong dài hạn.
Nhưng thực tế của năng lượng Nga cho thấy các cú sốc như vậy thường để lại hậu quả kéo dài, đặc biệt đối với công nghiệp nặng và các ngành sử dụng nhiều hạ tầng.

Đằng sau câu chuyện công nghệ là vấn đề về vị thế của châu Âu trong trật tự toàn cầu đang phân mảnh. Việc loại bỏ công nghệ Trung Quốc là sức ép ngày càng rõ từ Washington trong việc điều chỉnh chuỗi cung ứng và tiêu chuẩn an ninh theo lợi ích của Mỹ.
Với nhiều nhà quan sát, lệnh cấm này ít nhiều mang dáng dấp của một lựa chọn địa chính trị hơn là một quyết định thuần túy kinh tế – công nghệ.

Đồng thời, khi Mỹ rút dần vai trò bảo trợ an ninh và thúc đẩy các đồng minh tự chịu trách nhiệm nhiều hơn, châu Âu không chỉ gánh thêm chi phí quân sự, mà còn đối mặt với áp lực tái cấu trúc kinh tế theo các ưu tiên chiến lược của Washington.
Trong bối cảnh đó, việc cắt đứt những đối tác công nghệ hiệu quả và giá rẻ có thể làm suy yếu chính năng lực tự chủ chiến lược mà EU tuyên bố theo đuổi.

Vấn đề không nằm ở việc châu Âu có quyền quan ngại về an ninh mạng hay không. Bất kỳ nền kinh tế số nào cũng phải xử lý rủi ro an ninh. Vấn đề nằm ở cách tiếp cận.
Một chiến lược dựa trên kiểm soát rủi ro có mục tiêu rõ ràng và tiêu chuẩn kỹ thuật minh bạch khác hoàn toàn với một lệnh cấm quy mô lớn mang tính bao trùm. Khi chi phí vượt xa lợi ích chứng minh được, chính sách bắt đầu chuyển từ phòng vệ sang tự tổn hại.
Và, lệnh cấm công nghệ Trung Quốc có thể trở thành chương tiếp theo trong câu chuyện dài về cách châu Âu phản ứng chậm và trả giá cao trong kỷ nguyên địa kinh tế.
Nếu bài học từ năng lượng Nga chưa đủ, thì con số 431 tỷ USD có thể sẽ buộc EU phải đối diện một câu hỏi khó: tự chủ chiến lược đạt được bằng cách từ chối hợp tác, hay bằng cách quản lý khôn ngoan sự phụ thuộc trong một thế giới không còn lựa chọn hoàn hảo.

Trần Kiên

 

 

 

@a98 @hatam @ktqsminh @ngo-rung @hatam @elevonic @meotamthe

EU đang tung ra dự án "Made in Europe", để phục hưng công nghiệp EU, trong đó sẽ coi TQ là đối thủ, ít nhất về danh nghĩa (vì hàng công nghệ cao TQ đã vào EU rồi, và vì TQ không phải là nước phương Tây), nhưng thực chất còn coi Mỹ là đối thủ tiềm năng nữa, và Mỹ cũng thù địch với chương trình này của EU, vì Mỹ cũng đang ép EU phải mở cửa thị trường cho hàng công nghiệp của Mỹ vào thị trường.
Trong kế hoạch tái công nghiệp hóa này, trong đầu ra thị trường của nó thì ngành quốc phòng EU đóng vai trò tối quan trọng

Mục tiêu chính của dự án "Made in Europe", được thực hiện trong khuôn khổ "Đạo luật tăng tốc công nghiệp" (Industrial Accelerator Act) ngày 4/3/2026 do Ủy ban châu Âu đề xuất. Dự luật yêu cầu bắt buộc sử dụng linh kiện và công nghệ châu Âu, sự tham gia của các công ty EU vào các liên doanh với tỷ lệ đáng kể. Đối tác nước ngoài bị yêu cầu chia sẻ bí quyết công nghệ. Ít nhất 50% nhân viên của liên doanh phải là công dân từ các nước EU.

EU đang chuyển từ mô hình "thị trường mở, mua của ai rẻ nhất" sang mô hình "tự chủ chiến lược có điều kiện thị trường": dùng mua sắm công, trợ cấp, điều kiện FDI và các quỹ quốc phòng để buộc sản xuất, R&D, lao động, IP và chuỗi cung ứng quay lại châu Âu. Trung Quốc là đối thủ trực diện trong công nghiệp xanh và công nghệ sản xuất; Mỹ là đối thủ/đối tác cạnh tranh trong quốc phòng và công nghệ cao.
Vì vậy, Made in Europe không chỉ là khẩu hiệu chống Trung Quốc, mà là nỗ lực dựng lại năng lực công nghiệp của EU trong một thế giới nơi cả Trung Quốc lẫn Mỹ đều dùng công nghiệp như công cụ quyền lực (theo góc nhìn của EU).
Made in Europe / Made in EU hiện mới là đề xuất lập pháp, chưa phải luật hoàn chỉnh như bài này viết.

Bắc Kinh đe dọa các biện pháp đáp trả EU vì kế hoạch "Made in Europe"
08.05.2026
EU đang khởi động một kế hoạch phục hưng công nghiệp quy mô lớn – "Made in Europe". Tuy nhiên, Trung Quốc coi đây là sự phân biệt đối xử với các nhà sản xuất của mình và hứa sẽ có biện pháp đáp trả nếu một số quy định gây tranh cãi không bị loại khỏi văn bản.
Những gì Bắc Kinh không hài lòng và các lựa chọn đáp trả có thể, theo nội dung bài viết của Sputnik.

"Made in Europe"
Mục tiêu chính của dự án "Made in Europe", được thực hiện trong khuôn khổ "Đạo luật tăng tốc công nghiệp" do Ủy ban châu Âu thông qua, là củng cố nền tảng sản xuất của Lục địa già và chống lại việc nhập khẩu sản phẩm công nghệ cao từ Trung Quốc.
Dự luật yêu cầu bắt buộc sử dụng linh kiện và công nghệ châu Âu, sự tham gia của các công ty EU vào các liên doanh với tỷ lệ đáng kể. Đối tác nước ngoài bị yêu cầu chia sẻ bí quyết công nghệ. Ít nhất 50% nhân viên của liên doanh phải là công dân từ các nước EU.
Điều này liên quan đến các ngành chiến lược, bao gồm ô tô, năng lượng xanh, luyện kim.
Ủy ban châu Âu nhấn mạnh các biện pháp này nhằm bảo vệ và phục hưng nền công nghiệp châu Âu đang trì trệ. Kể từ năm 2024, các phân khúc thâm dụng năng lượng và ngành ô tô mất khoảng 200.000 việc làm, dự kiến sẽ còn cắt giảm thêm 600.000 việc làm nữa.
Kế hoạch đặt ra là nâng tỷ trọng ngành chế biến, chế tạo trong GDP của EU từ mức 14,3% hiện nay lên 20% vào năm 2035.

"Chúng tôi không hài lòng"
Trung Quốc phản ứng cứng rắn liền.
"EU phải loại bỏ các yêu cầu mang tính phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài, các yêu cầu về nội địa hóa, việc bắt buộc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ và công nghệ, các chính sách hạn chế trong lĩnh vực mua sắm công và các điều khoản tương tự khác", theo văn bản của Bộ Thương mại Trung Quốc gửi tới Ủy ban châu Âu.
Sự không hài lòng là dễ hiểu. Mặc dù Trung Quốc không được đề cập trực tiếp trong luật mới, nhiều điều khoản của nó được soạn thảo theo hướng nhằm hạn chế các nhà sản xuất Trung Quốc đang thống trị các lĩnh vực mục tiêu: xe điện, tấm pin mặt trời, pin.
"Yêu cầu nội địa hóa tới 70% giá trị gia tăng của sản phẩm trong EU đồng nghĩa với việc bán hoặc mất công nghệ, hạn chế khả năng tiếp cận linh kiện, phá vỡ chuỗi cung ứng hiện có hoặc khiến các công ty Trung Quốc phải rời khỏi thị trường. Châu Âu cũng có thể mất đi các khoản đầu tư từ Trung Quốc, vì có những hạn chế đối với các dự án lớn (trên 100 triệu euro)", Ekaterina Kosareva — chuyên viên quản lý đối tác của công ty "VMT Consult", chỉ ra.
Những rào cản này bị Bắc Kinh coi là nỗ lực loại bỏ các công ty Trung Quốc tham gia xây dựng nhà máy tại Hungary, Đức và Ba Lan, ông Sergey Tronin - phó giáo sư Khoa Quản lý Tài chính và Đầu tư của Đại học Tài chính trực thuộc Chính phủ Nga, cho biết thêm.

"Kịch bản cứng rắn"
Các nhà quan sát không loại trừ khả năng Trung Quốc sẽ cắt giảm mạnh đầu tư vào EU (nếu các điều kiện nội địa hóa trở nên quá khắt khe) và chuyển trọng tâm sang bán thành phẩm hoàn chỉnh.
Phương án này có lợi trong việc bảo vệ công nghệ mà họ bị ép buộc phải chia sẻ. Hơn nữa, sản xuất tại châu Âu đang trở nên thua lỗ do khủng hoảng năng lượng, giá điện tại đây cao gấp 3- 4 lần so với Trung Quốc hoặc Mỹ.
Điều này sẽ đem lại sự suy tàn công nghiệp cho EU: nếu các công ty Trung Quốc (ví dụ CATL hoặc BYD) từ chối xây dựng nhà máy vì điều kiện bất lợi, Lục địa già sẽ mất đi hàng nghìn việc làm và khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến. Và nếu không có đầu tư trực tiếp và chuyển giao bí quyết, ngành công nghiệp có nguy cơ trở thành "xưởng lắp ráp" cho các sản phẩm lạc hậu, ông Tronin lưu ý.
"Châu Âu sẽ có ít nhà máy Trung Quốc hơn, ít việc làm và thuế hơn, nhưng lại chịu nhiều áp lực hơn từ hàng nhập khẩu giá rẻ lên các nhà sản xuất trong nước. Đặc biệt dễ bị tổn thương là ngành ô tô, sản xuất pin, tấm năng lượng mặt trời, chế tạo máy và hóa chất", ông Vadim Petrov - thành viên Hội đồng Hiệp hội Kinh tế Chính trị Thế giới (WAPE), nhấn mạnh.
Tuy nhiên, kịch bản như vậy tiềm ẩn rủi ro cho cả hai bên. EU là thị trường tiêu thụ công nghệ xanh lớn nhất, việc mất thị trường này là cực kỳ bất lợi. Hơn nữa, Trung Quốc đang có thặng dư thương mại đáng kể với châu Âu (hơn 300 tỷ euro). Bắc Kinh cần hấp thụ năng lực sản xuất dư thừa, tiêu dùng nội địa là không đủ.

Cả một kho các biện pháp đáp trả
Tuy nhiên, Trung Quốc có cả một kho các biện pháp đáp trả.
Trước hết – hạn chế xuất khẩu các nguyên tố đất hiếm quan trọng cho quá trình chuyển đổi xanh (Trung Quốc kiểm soát 80-90% thị trường thế giới ở đây). Điều này có thể làm tê liệt hoạt động của các doanh nghiệp châu Âu.
Ngoài ra, có thể có các đòn tấn công có chủ đích. Ví dụ, nối lại các lệnh cấm chống bán phá giá mà Pháp và Tây Ban Nha từng phải đối mặt đối với rượu mạnh, sản phẩm từ sữa, thịt lợn.
Cuối cùng, gây áp lực điều tiết lên doanh nghiệp châu Âu. Chẳng hạn, kiểm tra các công ty tại Trung Quốc về vấn đề an ninh mạng hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Điều này sẽ gây khó khăn đáng kể cho những ông lớn như Volkswagen và Mercedes-Benz.

Các biện pháp gây tranh cãi
Theo đánh giá của Phòng Thương mại Trung Quốc tại EU và công ty tư vấn KPMG, việc có khả năng loại trừ các công ty Trung Quốc khỏi lĩnh vực an ninh mạng và cơ sở hạ tầng quan trọng sẽ khiến EU thiệt hại 367,8 tỷ euro trong 5 năm.
Các nền kinh tế công nghiệp phát triển then chốt cũng sẽ chịu thiệt hại. Ví dụ, nếu các kịch bản tương tự được thực hiện trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng số, thiệt hại tiềm năng của Đức là 170,8 tỷ euro, của Pháp là 46,3 tỷ euro.
Do đó, Brussels sẽ phải đi đến thỏa hiệp. Trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng gay gắt, châu Âu không thể cho phép mình đối đầu cứng rắn với Trung Quốc. Nếu không sẽ dẫn đến mất thêm năng lực cạnh tranh công nghiệp và mất khả năng tiếp cận chuỗi công nghệ.

https://kevesko.vn/20260508/bac-kinh-de-doa-cac-bien-phap-dap-tra-eu-vi-ke-hoach-made-in-europe-42485455.html

 


   
is3 reacted
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

Báo chí phương Tây đang than phiền việc họ không được tự do "tẩy não" dân mình

Đảng CS Việt Nam đang xây dựng hệ thống kiểm duyệt internet.
1.000 người có tầm ảnh hưởng (influencers) được nhà nước hậu thuẫn, 5.000 chuyên gia trí tuệ nhân tạo, và mục tiêu đạt 80% nội dung "tích cực" trên mạng vào năm 2030, với việc trí tuệ nhân tạo sẽ xóa bỏ các bài đăng không tuân thủ trong vòng 24 giờ.
Họ gọi đó là "miễn dịch tư tưởng".
Trung Quốc đã xây dựng Bức tường lửa vĩ đại. Việt Nam đang xây dựng một thứ tinh vi hơn: Một nguồn cấp dữ liệu do nhà nước quản lý, trông có vẻ tự nhiên nhưng thực chất không phải.
Thế hệ kiểm duyệt tiếp theo sẽ nhấn chìm thông tin, thay vì chặn nó.

https://www.reuters.com/sustainability/society-equity/communist-run-vietnam-eyes-influencers-ai-spruce-up-propaganda-documents-show-2026-05-08/

This post was modified 1 tháng trước by langtubachkhoa

   
meotamthe and is3 reacted
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

@a98 @hatam @ktqsminh @ngo-rung @meotamthe @elevonic
Đáo hạn nghĩa là Mỹ phải trả nợ cho chủ nợ. Khi T-bill/note/bond đáo hạn, Kho bạc phải trả gốc cho người đang nắm giữ chứng khoán đó. Ví dụ với T-bill trong TreasuryDirect, khi đáo hạn, nhà đầu tư có thể “redeem” để nhận tiền gốc vào tài khoản, hoặc reinvest dùng tiền đó mua bill mới. TreasuryDirect định nghĩa reinvest là dùng tiền từ chứng khoán đáo hạn để mua chứng khoán mới cùng loại.
Mỹ thường vay nợ mới để trả nợ cũ. Kho bạc Mỹ thường roll over / refinance nợ đáo hạn bằng cách phát hành trái phiếu mới. Trong thông cáo quarterly refunding, Treasury nêu rõ ví dụ: phát hành 125 tỷ USD chứng khoán để refund khoảng 98,2 tỷ USD notes đáo hạn, đồng thời huy động thêm 26,8 tỷ USD tiền mới. Đây chính là cấu trúc: một phần để đảo nợ cũ, một phần là vay ròng mới để bù thâm hụt.

Với 10 nghìn tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ đáo hạn, Trung Quốc từ chối mua chúng, báo hiệu sự kết thúc của thời đại mà cứu Mỹ đồng nghĩa cứu Trung Quốc.
Trong Thế vận hội Bắc Kinh 2008, Mỹ và Trung Quốc, khi đó đang trong giai đoạn trăng mật, đã hợp tác chặt chẽ trong cuộc khủng hoảng tài chính để đảm bảo sự hỗ trợ của Trung Quốc.
Cựu Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Henry Paulson, một người bạn lâu năm của đồng nhân dân tệ Trung Quốc, đã nhận được cảnh báo từ Trung Quốc rằng vấn đề nợ nần của chính phủ Hoa Kỳ là mối nguy hiểm tiềm ẩn lớn nhất trong hệ thống tài chính Hoa Kỳ, so với cuộc khủng hoảng Fannie Mae và Freddie Mac.
Cảnh báo này vẫn còn phù hợp vào năm 2026, nhưng mối quan hệ giữa hai nước không còn như trước nữa. Vấn đề nợ của Mỹ sẽ nghiêm trọng đến mức nào vào năm 2026? Liệu Mỹ và Trung Quốc có hợp tác như trước đây không?
Một đợt tăng nợ 10 nghìn tỷ đô la đang cận kề; liệu chiến lược "vay mới để trả nợ cũ" của Mỹ có còn khả thi nữa không?
Theo một báo cáo gần đây của Bloomberg, cựu Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Henry Paulson đã kêu gọi chính quyền Hoa Kỳ phát triển một kế hoạch dự phòng để ngăn chặn sự sụt giảm nhu cầu về trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ, cảnh báo rằng sự kiện như vậy sẽ có hậu quả "tàn phá".
Là một cựu lãnh đạo Mỹ, những cảnh báo này không phải là tuyên bố về lập trường chính trị.

Theo dữ liệu công khai từ Bộ Tài chính Hoa Kỳ, số nợ gốc của Kho bạc Hoa Kỳ đáo hạn vào năm 2026 là khoảng từ 9,2 đến 10 nghìn tỷ đô la.
Trong đó, trái phiếu kho bạc ngắn hạn chiếm khoảng 6,7 nghìn tỷ USD, trái phiếu kho bạc trung hạn khoảng 2,5 nghìn tỷ USD và trái phiếu kho bạc dài hạn khoảng 0,8 nghìn tỷ USD.
Những khoản nợ này phải được thanh toán bằng tiền mới vào năm 2026, nghĩa là sẽ cần phải thanh toán khoản nợ lên đến 10 nghìn tỷ đô la. Ngoài ra, để duy trì hoạt động bình thường, Bộ Tài chính Mỹ sẽ cần phải tăng nợ khoảng 166 tỷ USD mỗi tháng, tổng cộng nợ mới lên tới 2 nghìn tỷ USD trong năm.
Cựu Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson, người đã lãnh đạo Hoa Kỳ vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, đã thẳng thắn tuyên bố rằng cuộc khủng hoảng nợ của Hoa Kỳ này hoàn toàn khác với năm 2008. Hồi đó, chính phủ có không gian tài chính để dọn dẹp mớ hỗn độn; giờ đây, cuộc khủng hoảng trực tiếp thách thức khả năng tài chính của chính phủ. Nếu nó sụp đổ, hậu quả sẽ còn tàn khốc hơn nhiều so với năm 2008, vì vậy các kế hoạch dự phòng phải được chuẩn bị trước.
Tính đến tháng 4 năm 2026, tổng nợ liên bang của Mỹ đã đạt gần 39 nghìn tỷ đô la, với các khoản thanh toán lãi đạt 1,23 nghìn tỷ đô la mỗi năm chỉ trong quý đầu tiên của năm 2026, tương đương 4,18% GDP, một mức cao kỷ lục trong nhiều thập kỷ.
Trước đây, Mỹ không thiếu người mua. Dù sao đi nữa, Trung Quốc là một khách hàng lớn, cung cấp mạng lưới an toàn bằng cách gia hạn trái phiếu kho bạc Mỹ hàng năm và thêm các khoản đầu tư mới, đạt đỉnh điểm hơn 1,3 nghìn tỷ đô la.
Tuy nhiên, Trung Quốc hiện đã giảm tổng số cổ phiếu nắm giữ của mình trong kho bạc Mỹ khoảng 850 tỷ đô la, với số cổ phiếu nắm giữ giảm xuống dưới 700 tỷ đô la vào tháng 10 năm 2025, khiến họ trở thành người nắm giữ nợ Mỹ lớn thứ ba.

Mỹ đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm chủ nợ có sức mạnh như Trung Quốc.
Sự lựa chọn của Trung Quốc phản ánh một cách tiếp cận thực tế, ưu tiên lợi nhuận, khi mà Trung Quốc từ lâu đã chỉ ra những điểm yếu trong hệ thống tiền tệ và tài chính của Mỹ.
Nếu chính phủ Mỹ quan tâm đúng mức thì vấn đề này đã được giải quyết từ lâu rồi; nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Quy mô nợ của Mỹ không chỉ mở rộng mà tốc độ gia tăng cũng đang tăng nhanh.
Để đảm bảo cho vay, lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 30 năm đã hồi phục lên 5% vào đầu tháng 5 năm 2026, chỉ thiếu một chút nữa là đạt mức cao nhất trong 18 năm. Điều này ngụ ý rằng giá trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục giảm và rủi ro nắm giữ ngày càng tăng.
Một số người khao khát kỷ nguyên "cứu nước Mỹ là cứu Trung Quốc", tin rằng Trung Quốc nên can thiệp.
Tuy nhiên, đừng quên rằng sự can thiệp của Trung Quốc vào thời điểm đó dựa trên bối cảnh kinh tế toàn cầu vào thời điểm đó và nhằm mục đích bảo vệ lợi ích kinh tế của chính mình.
Hiện nay, thâm hụt tài chính của Mỹ đang ngày càng nghiêm trọng. IMF thậm chí còn cảnh báo rằng đến năm 2031, nợ của Mỹ sẽ lên tới 142% GDP - một lỗ hổng nợ mà không ai có thể lấp đầy. Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về an ninh kinh tế của chính mình.
Sự kết thúc của kỷ nguyên "cứu nước Mỹ là cứu Trung Quốc" không phải là khởi đầu của cuộc đối đầu Trung-Mỹ, mà là một tín hiệu cho thấy nền kinh tế toàn cầu đang chuyển từ "sự phụ thuộc đơn cực" sang "cân bằng đa dạng".
Trước đây, thế giới cho rằng Mỹ là "anh cả" và trái phiếu kho bạc Mỹ là "tài sản an toàn". Giờ đây, cuộc khủng hoảng nợ của Mỹ đang phá vỡ ảo tưởng của mọi người.
Việc đáo hạn 10 nghìn tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ không phải là một cuộc khủng hoảng đối với Mỹ mà là một bước ngoặt cho nền kinh tế toàn cầu. Nhìn về tương lai, áp lực lên nợ của Mỹ sẽ tiếp tục, và cảnh báo của Paulson về "sự sụp đổ trái phiếu độc hại" không phải là phóng đại.
Mặt khác, Trung Quốc sẽ tiếp tục tuân thủ chiến lược dự trữ ngoại hối thận trọng, không nhắm vào bất kỳ ai cụ thể cũng như không "trả hóa đơn" cho cuộc khủng hoảng nợ của người khác.

Trần Kiên

This post was modified 1 tháng trước by langtubachkhoa

   
meotamthe reacted
Trả lờiTrích dẫn
meotamthe
(@meotamthe)
Trung niên
Được ưa thích
Đạo khả đạo phi thường đạo
Trung lưu rank 2
Tài sản: 24362.23
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 3903
Topic starter  

Đăng bởi: @langtubachkhoa

@a98 @hatam @ktqsminh @ngo-rung @meotamthe @elevonic
Đáo hạn nghĩa là Mỹ phải trả nợ cho chủ nợ. Khi T-bill/note/bond đáo hạn, Kho bạc phải trả gốc cho người đang nắm giữ chứng khoán đó. Ví dụ với T-bill trong TreasuryDirect, khi đáo hạn, nhà đầu tư có thể “redeem” để nhận tiền gốc vào tài khoản, hoặc reinvest dùng tiền đó mua bill mới. TreasuryDirect định nghĩa reinvest là dùng tiền từ chứng khoán đáo hạn để mua chứng khoán mới cùng loại.
Mỹ thường vay nợ mới để trả nợ cũ. Kho bạc Mỹ thường roll over / refinance nợ đáo hạn bằng cách phát hành trái phiếu mới. Trong thông cáo quarterly refunding, Treasury nêu rõ ví dụ: phát hành 125 tỷ USD chứng khoán để refund khoảng 98,2 tỷ USD notes đáo hạn, đồng thời huy động thêm 26,8 tỷ USD tiền mới. Đây chính là cấu trúc: một phần để đảo nợ cũ, một phần là vay ròng mới để bù thâm hụt.

Với 10 nghìn tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ đáo hạn, Trung Quốc từ chối mua chúng, báo hiệu sự kết thúc của thời đại mà cứu Mỹ đồng nghĩa cứu Trung Quốc.
Trong Thế vận hội Bắc Kinh 2008, Mỹ và Trung Quốc, khi đó đang trong giai đoạn trăng mật, đã hợp tác chặt chẽ trong cuộc khủng hoảng tài chính để đảm bảo sự hỗ trợ của Trung Quốc.
Cựu Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Henry Paulson, một người bạn lâu năm của đồng nhân dân tệ Trung Quốc, đã nhận được cảnh báo từ Trung Quốc rằng vấn đề nợ nần của chính phủ Hoa Kỳ là mối nguy hiểm tiềm ẩn lớn nhất trong hệ thống tài chính Hoa Kỳ, so với cuộc khủng hoảng Fannie Mae và Freddie Mac.
Cảnh báo này vẫn còn phù hợp vào năm 2026, nhưng mối quan hệ giữa hai nước không còn như trước nữa. Vấn đề nợ của Mỹ sẽ nghiêm trọng đến mức nào vào năm 2026? Liệu Mỹ và Trung Quốc có hợp tác như trước đây không?
Một đợt tăng nợ 10 nghìn tỷ đô la đang cận kề; liệu chiến lược "vay mới để trả nợ cũ" của Mỹ có còn khả thi nữa không?
Theo một báo cáo gần đây của Bloomberg, cựu Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Henry Paulson đã kêu gọi chính quyền Hoa Kỳ phát triển một kế hoạch dự phòng để ngăn chặn sự sụt giảm nhu cầu về trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ, cảnh báo rằng sự kiện như vậy sẽ có hậu quả "tàn phá".
Là một cựu lãnh đạo Mỹ, những cảnh báo này không phải là tuyên bố về lập trường chính trị.

Theo dữ liệu công khai từ Bộ Tài chính Hoa Kỳ, số nợ gốc của Kho bạc Hoa Kỳ đáo hạn vào năm 2026 là khoảng từ 9,2 đến 10 nghìn tỷ đô la.
Trong đó, trái phiếu kho bạc ngắn hạn chiếm khoảng 6,7 nghìn tỷ USD, trái phiếu kho bạc trung hạn khoảng 2,5 nghìn tỷ USD và trái phiếu kho bạc dài hạn khoảng 0,8 nghìn tỷ USD.
Những khoản nợ này phải được thanh toán bằng tiền mới vào năm 2026, nghĩa là sẽ cần phải thanh toán khoản nợ lên đến 10 nghìn tỷ đô la. Ngoài ra, để duy trì hoạt động bình thường, Bộ Tài chính Mỹ sẽ cần phải tăng nợ khoảng 166 tỷ USD mỗi tháng, tổng cộng nợ mới lên tới 2 nghìn tỷ USD trong năm.
Cựu Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson, người đã lãnh đạo Hoa Kỳ vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, đã thẳng thắn tuyên bố rằng cuộc khủng hoảng nợ của Hoa Kỳ này hoàn toàn khác với năm 2008. Hồi đó, chính phủ có không gian tài chính để dọn dẹp mớ hỗn độn; giờ đây, cuộc khủng hoảng trực tiếp thách thức khả năng tài chính của chính phủ. Nếu nó sụp đổ, hậu quả sẽ còn tàn khốc hơn nhiều so với năm 2008, vì vậy các kế hoạch dự phòng phải được chuẩn bị trước.
Tính đến tháng 4 năm 2026, tổng nợ liên bang của Mỹ đã đạt gần 39 nghìn tỷ đô la, với các khoản thanh toán lãi đạt 1,23 nghìn tỷ đô la mỗi năm chỉ trong quý đầu tiên của năm 2026, tương đương 4,18% GDP, một mức cao kỷ lục trong nhiều thập kỷ.
Trước đây, Mỹ không thiếu người mua. Dù sao đi nữa, Trung Quốc là một khách hàng lớn, cung cấp mạng lưới an toàn bằng cách gia hạn trái phiếu kho bạc Mỹ hàng năm và thêm các khoản đầu tư mới, đạt đỉnh điểm hơn 1,3 nghìn tỷ đô la.
Tuy nhiên, Trung Quốc hiện đã giảm tổng số cổ phiếu nắm giữ của mình trong kho bạc Mỹ khoảng 850 tỷ đô la, với số cổ phiếu nắm giữ giảm xuống dưới 700 tỷ đô la vào tháng 10 năm 2025, khiến họ trở thành người nắm giữ nợ Mỹ lớn thứ ba.

Mỹ đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm chủ nợ có sức mạnh như Trung Quốc.
Sự lựa chọn của Trung Quốc phản ánh một cách tiếp cận thực tế, ưu tiên lợi nhuận, khi mà Trung Quốc từ lâu đã chỉ ra những điểm yếu trong hệ thống tiền tệ và tài chính của Mỹ.
Nếu chính phủ Mỹ quan tâm đúng mức thì vấn đề này đã được giải quyết từ lâu rồi; nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Quy mô nợ của Mỹ không chỉ mở rộng mà tốc độ gia tăng cũng đang tăng nhanh.
Để đảm bảo cho vay, lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 30 năm đã hồi phục lên 5% vào đầu tháng 5 năm 2026, chỉ thiếu một chút nữa là đạt mức cao nhất trong 18 năm. Điều này ngụ ý rằng giá trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục giảm và rủi ro nắm giữ ngày càng tăng.
Một số người khao khát kỷ nguyên "cứu nước Mỹ là cứu Trung Quốc", tin rằng Trung Quốc nên can thiệp.
Tuy nhiên, đừng quên rằng sự can thiệp của Trung Quốc vào thời điểm đó dựa trên bối cảnh kinh tế toàn cầu vào thời điểm đó và nhằm mục đích bảo vệ lợi ích kinh tế của chính mình.
Hiện nay, thâm hụt tài chính của Mỹ đang ngày càng nghiêm trọng. IMF thậm chí còn cảnh báo rằng đến năm 2031, nợ của Mỹ sẽ lên tới 142% GDP - một lỗ hổng nợ mà không ai có thể lấp đầy. Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về an ninh kinh tế của chính mình.
Sự kết thúc của kỷ nguyên "cứu nước Mỹ là cứu Trung Quốc" không phải là khởi đầu của cuộc đối đầu Trung-Mỹ, mà là một tín hiệu cho thấy nền kinh tế toàn cầu đang chuyển từ "sự phụ thuộc đơn cực" sang "cân bằng đa dạng".
Trước đây, thế giới cho rằng Mỹ là "anh cả" và trái phiếu kho bạc Mỹ là "tài sản an toàn". Giờ đây, cuộc khủng hoảng nợ của Mỹ đang phá vỡ ảo tưởng của mọi người.
Việc đáo hạn 10 nghìn tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ không phải là một cuộc khủng hoảng đối với Mỹ mà là một bước ngoặt cho nền kinh tế toàn cầu. Nhìn về tương lai, áp lực lên nợ của Mỹ sẽ tiếp tục, và cảnh báo của Paulson về "sự sụp đổ trái phiếu độc hại" không phải là phóng đại.
Mặt khác, Trung Quốc sẽ tiếp tục tuân thủ chiến lược dự trữ ngoại hối thận trọng, không nhắm vào bất kỳ ai cụ thể cũng như không "trả hóa đơn" cho cuộc khủng hoảng nợ của người khác.

Trần Kiên

Vụ nợ chính phủ này cũng nằm trong nội dung đàm phán Mỹ Trung lần này, nếu Mỹ vỡ nợ, Trung Quốc cũng chịu phần nào thiệt hại từ ảnh hưởng chung, tuy nhiên do giữ nguồn hàng hoá, tình hình của Trung Quốc không đến mức bi đát như Mỹ, tương tự như hồi covid-19.

 


   
is3 reacted
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

@a98 @hatam @ktqsminh @ngo-rung @meotamthe @elevonic

Họ đã dự đoán Trung Quốc sẽ quỳ gối. Họ đã trích dẫn ảnh vệ tinh, dữ liệu vận tải biển, và công suất lọc dầu để chứng minh Bắc Kinh sắp cạn kiệt. Nhưng thực tế lại là một cú sốc hoàn toàn ngược lại: các tập đoàn dầu mỏ Trung Quốc hiện đang là người bán ròng trên thị trường giao ngay châu Âu và châu Á. Trong khi cả thế giới đang 'chạy đôn chạy đáo tìm nguồn cung mới', Trung Quốc lại có dầu thừa để bán. Đây không phải là may mắn – đây là thành quả của một chiến lược kéo dài hàng thập kỷ. 👇

1. Dự đoán thất bại: Khi các nhà phân tích lại bị "vả mặt"
Theo kênh Inside China Business, các nhà phân tích năng lượng phương Tây đã mắc một sai lầm nghiêm trọng khi dự đoán rằng việc eo biển Hormuz bị phong tỏa và dòng chảy dầu từ Venezuela bị gián đoạn sẽ bóp nghẹt Trung Quốc. Họ tin rằng Bắc Kinh sẽ phải vật lộn để tìm nguồn cung thay thế, đẩy giá dầu toàn cầu lên cao hơn nữa. Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Các kho dự trữ của Trung Quốc không hề bị rút cạn. Nhu cầu nội địa không sụp đổ. Và Bắc Kinh không hề ban hành bất kỳ lệnh cắt giảm công nghiệp khẩn cấp nào – điều mà châu Âu và nhiều nền kinh tế châu Á khác đã buộc phải làm. Thay vào đó, Trung Quốc đang hoạt động với tình trạng dư thừa dầu thô một cách đáng kinh ngạc.

2. Xương sống BRI: Hệ sinh thái năng lượng độc lập mà phương Tây chế giễu
Câu trả lời cho nghịch lý này nằm ở Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI). Những khoản đầu tư hàng trăm tỷ đô la của Trung Quốc vào cơ sở hạ tầng năng lượng, khai khoáng và hậu cần trên khắp Nam bán cầu trong hơn một thập kỷ qua đã tạo ra một hệ sinh thái năng lượng thay thế. Hệ thống này hoạt động phần lớn bên ngoài tầm với của các lệnh trừng phạt và sức mạnh quân sự của phương Tây. Ví dụ điển hình bao gồm nhà máy lọc dầu lớn nhất châu Phi do các kỹ sư Trung Quốc xây dựng ở Nigeria, xuất khẩu dầu kỷ lục từ Brazil sang Trung Quốc để bù đắp cho sự thiếu hụt từ Venezuela, và các hành lang hậu cần trưởng thành với các nhà sản xuất ở Mỹ Latinh, Trung Á và Trung Đông. Tất cả những điều này giúp Bắc Kinh không còn phụ thuộc vào eo biển Hormuz.

3. Một mô hình sai lầm có hệ thống
Kevin Wamsley, người dẫn chương trình, chỉ ra rằng đây là lần thứ hai trong những năm gần đây các chuyên gia dầu mỏ phương Tây đánh giá sai một cách ngoạn mục về vị thế năng lượng của Trung Quốc. Họ nghiên cứu ảnh vệ tinh, đưa ra những "phỏng đoán có học thức", nhưng lại bỏ lỡ bức tranh lớn hơn về sự chuẩn bị chiến lược của Bắc Kinh. Trong khi các nền dân chủ phương Tây còn đang mải tranh luận về các phản ứng quân sự ngắn hạn, thì cơ sở hạ tầng từ thời kỳ BRI của Bắc Kinh đang lặng lẽ chứng minh giá trị của nó trước sự gián đoạn năng lượng lớn nhất trong nhiều thập kỷ.

4. Cập nhật cuộc chiến Ba Tư và cái bóng của Neytanyahu
Trong một diễn biến liên quan, Al Jazeera và Al-Mayadeen dẫn các nguồn tin chính thức của Ba Tư cho biết Tê-ran đã đưa ra phản hồi cho đề xuất của Mỹ. Các điều kiện bao gồm chấm dứt chiến tranh trên toàn khu vực (với Lebanon là lằn ranh đỏ), dỡ bỏ hoàn toàn trừng phạt, trả lại các quỹ bị đóng băng, duy trì quyền kiểm soát của Ba Tư đối với eo biển Hormuz, và đàm phán về chương trình hạt nhân. Phản hồi này được các quan chức Ba Tư mô tả là được trình bày trong một "khuôn khổ thực tế và tích cực". Tuy nhiên, ngay sau cuộc điện đàm với Neytanyahu, Lão Don đã bác bỏ đề xuất này. Một lần nữa, mệnh lệnh từ Tê-la-vít đã định đoạt chính sách của Đầm Lầy.
Trong khi các nhà lãnh đạo phương Tây vẫn đang chìm đắm trong ảo tưởng rằng họ có thể bóp nghẹt các đối thủ của mình bằng hải quân và trừng phạt, thì Bắc Kinh đã âm thầm xây dựng một thực tế hoàn toàn khác. Trung Quốc không còn là 'con hổ giấy' phụ thuộc vào lòng thương xót của các tuyến đường biển phương Tây. Họ là một đế chế năng lượng thầm lặng, được xây dựng bằng bê tông, đường ống và các hiệp định thương mại dài hạn. Trong ván cờ toàn cầu này, những kẻ đang la hét 'kiểm soát Hormuz' hóa ra lại là những kẻ dễ bị tổn thương nhất.

Summary: Western analysts predicted China would face a massive oil shortage during the global energy crisis. Instead, Chinese energy firms are now selling excess crude on international markets while many Western economies struggle with rising costs and supply fears.

(Tin Chiến Sự)


   
phamdung and is3 reacted
Trả lờiTrích dẫn
(@langtubachkhoa)
Lão niên
Được ưa thích
Bá tước Phương Nam – langtubachkhoa
Trung lưu rank 3
Tài sản: 74778.24
Tham gia: 3 năm trước
Bài viết: 23127
 

Báo Nhật tiết lộ người Việt giờ đã không còn ham muốn đi Nhật làm việc
Tờ báo Tokyo Shimbun hôm qua đã đăng tải một phóng sự điều tra về thực trạng tuyển dụng lao động Việt Nam. Họ phơi bày một góc tối đáng ngại tại Việt Nam khi các trung tâm XKLD hiện đang thiếu hụt ứng viên trầm trọng đến mức phải dùng chiêu trò để đối phó với phía đối tác Nhật Bản.
Theo thông tin từ các tổ chức giám sát tại tỉnh Aichi, quy tắc ngầm "1 chọi 3" (chuẩn bị số lượng ứng viên gấp 3 lần nhu cầu tuyển dụng) từng là tiêu chuẩn vàng trong ngành. Tuy nhiên hiện ở phía Việt Nam, nhiều trung tâm môi giới tại Việt Nam đã phải thuê những "ứng viên chim mồi" tham gia phỏng vấn để giữ thể diện và làm đẹp hồ sơ với phía Nhật
Phóng sự đã thực hiện khảo sát tại nơi vốn là "thủ phủ" của XKLĐ: tỉnh Hà Tĩnh. Nơi mà trước đây vốn có đến 1000 người/năm đi Nhật nay đã sụt giảm chỉ còn dưới 200 người. Nguyên nhân được cho là do giá trị đồng Yên đã giảm khoảng 20% so với 10 năm trước. Giấc mơ xây nhà 2 tầng ở quê của người lao động dần tan biến khi số tiền gửi về không còn đủ sức nặng.
Đồng thời với đó, sự xuất hiện của nhà máy sản xuất xe điện VinFast tại Hà Tĩnh đã thu hút nguồn lao động địa phương. Với mức lương từ 12 - 18 triệu đồng/tháng (tương đương với số tiền một lao động tại Nhật gửi về nhà), nhiều người đã chọn làm việc gần gia đình thay vì đi xa 3.500 km đến Nhật Bản.
Tình trạng này không chỉ xảy ra ở Hà Tĩnh mà đang lan rộng. Một đại diện môi giới thừa nhận: "Ngay cả khi chúng tôi đổ tiền vào quảng cáo, cũng chẳng ai đến nộp đơn".
Việc Nhật Bản không còn là "miền đất hứa" duy nhất đang buộc các doanh nghiệp nước này phải xem xét lại chế độ đãi ngộ nếu không muốn đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực trầm trọng trong tương lai gần.
Giải thích về ứng viên chim mồi 「サクラ」thì họ là những người thực chất không hề có ý định đi Nhật, họ chỉ xuất hiện để lấp đầy quân số cho đủ "chỉ tiêu" buổi phỏng vấn.
Trực quan nhất là thanh niên trong hình. Anh em Việt Nam hay gọi vui là "quân xanh". Thực tế thì vụ này đã có từ lâu rồi nhưng mà đợt này có vẻ thiếu ứng viên quá nên các báo Nhật cũng biết rõ hơn!

https://www.tokyo-np.co.jp/article/480283

(Triet M Chau)


   
is3 reacted
Trả lờiTrích dẫn
Trang 87 / 92
Chia sẻ: